LỄ GIỖ ĐỨC CHA CASSAIGNE

31.10.2017

(Bài giảng của Đức Cha Phó Đaminh)

 

DẪN

Trong bối cảnh ngày giỗ và bên cạnh mộ của Đức Cha Gioan Cassaigne khả kính, ba bài đọc G 19,23-27a ; Rm 8,31b-35.37-39 ; Lc 23, 33.39-43 mà chúng ta vừa nghe thật đánh động và xúc tích. Cả ba bài đọc đều đối diện với cái chết và cho thấy ánh sáng tin yêu vào Thiên Chúa và vào Đức Giêsu Kitô có khả năng xuyên thấu sự chết bằng niềm hy vọng mãnh liệt biết chừng nào.

BÀI ĐỌC I

-       Trước hết bài đọc I với nhân vật Gióp. Đang sung túc mọi bề, trong chốc lát ông Gióp bị mất hết tất cả tài sản chiên bò con cái ; thậm chí bản thân ông cũng bị ung nhọt ghẻ lở từ đầu đến chân, phải ngồi trên đống tro lấy mảnh sành mà gãi. Ông bị cám dỗ trách móc Đức Chúa: “Chỉ ít nữa thôi tôi sẽ ngủ vùi trong cát bụi, Ngài có tìm cũng chẳng thấy tôi đâu!” (G 7,17-21).

-       Thế nhưng, cuối cùng đức tin của ông vào một Đức Chúa yêu thương đã bừng dậy, và ông tuyên bố những lời mạnh mẽ như ta vừa nghe trong bài đọc I: “Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống…Sau khi da tôi đây bị tiêu hủy, thì với tấm thân, tôi sẽ được nhìn ngắm Thiên Chúa. Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Người. Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ” (G 19,25-27).

-       “Không phải người xa lạ” thì là người thân quen, thân yêu, Đấng mà ông tin là yêu ông. Chúng ta thấy: tin, yêu và bừng lên niềm hy vọng “bất tử”.

BÀI ĐỌC II

­       Cũng tin, yêu và hy vọng mãnh liệt vào sự sống vĩnh cửu, nhưng thánh Phaolô trong bài đọc II đặt niềm tin yêu hy vọng ấy vào Đức Giêsu Kitô, “Đấng đã chết, hơn nữa đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta” (câu 34).

­       Niềm tin của thánh Phaolô vào tình yêu của Đức Kitô mạnh mẽ, sáng rực đến nỗi bật lên thành một lời tuyên xưng mang tính thách đố: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống…Không gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô” (câu 35-37).

­       Phải chăng lời tuyên xưng mạnh mẽ của thánh Phaolô vào “Tình yêu mạnh hơn tử thần” không trở nên cụ thể và sáng ngời trong cuộc đời của Đức Cha Cassaigne, một tình yêu dành cho người dân tộc bất chấp bệnh tật, nan y, cùi lở, và cả sự chết ; “tình yêu” mà thánh Phaolô xác định là “của Đức Kitô”, như được mô tả trong bài Phúc Âm về hoạt cảnh đóng đinh thập giá.

BÀI PHÚC ÂM

­       Trên Núi Sọ, Chúa Giêsu bị đóng đinh cùng với hai tên gian phi. Cảnh tượng đóng đinh thì không thể không dã man khủng khiếp, nhưng bài Phúc Âm lại như hướng cái nhìn chúng ta đến một chi tiết tuyệt đẹp: người trộm lành quan sát cung cách thái độ của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn và trước cái chết, đã nảy sinh một niềm tin yêu hy vọng bật thành một lời van xin lạ lùng: “Lạy Ngài Giêsu, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi” ; ngược lại, câu trả lời của Chúa Giêsu cũng lạ lùng không kém, mở ra cả một chân trời hiệp thông yêu thương vượt trên sự chết: ; “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ ở trên Thiên Đàng với tôi” (Lc 23,42-43). Tình yêu của người dám thí mạng sống cho người mình yêu là tình yêu lớn nhất, vượt thắng cả sự chết, và nơi Đức Kitô là mở ra chân trời phục sinh.

­       Chúng ta có thể nói đến “tình yêu dám thí mạng sống vì người mình yêu” nơi con người và trong cuộc đời của ĐC Cassaigne mà hôm nay chúng ta cử hành lễ giỗ lần thứ 44 bên mộ ngài đây không?

GƯƠNG SỐNG CỦA ĐC CASSAIGNE

-       Chúng ta hãy nghe chính lời ngài tâm sự mà những người sống gần thường được nghe: “Đời tôi chỉ có ba ước nguyện: được chịu đựng, chịu đau và chịu chết ở đây, giữa anh chị em dân tộc của tôi” (Je ne demande que trois choses: tenir, souffrir et mourir ici, au milieu de mes Montagnards). Ước nguyện chân thành này đã trở thành hiện thực và là sự kiện đang được kiểm chứng trước mắt chúng ta.

-       Đến với người dân tộc, ngài lập tức học tiếng dân tộc, tìm hiểu phong tục tập quán của người dân tộc, xuất bản tập giáo lý cho người dân tộc. Tất cả đều trở thành những tác phẩm đầu tiên: “Tự điển Pháp-Kơho-Việt” đầu tiên, “Phong tục tập quán người dân tộc Kơho” đầu tiên, tập “Giáo lý cho người Kơho” đầu tiên, tất cả khiến ngài trở thành Ông tổ của công cuộc truyền giáo cho người dân tộc trên vùng Cao Nguyên Di Linh-Langbiang.

-       Hoa trái truyền giáo sớm được Chúa ban. Ngài đến Di Linh này đầu năm 1927, thì đến cuối năm vào chiều 7.12. 1927 áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, ngài đã rửa tội cho người dân tộc đầu tiên là bà Maria Ka Trut, một bệnh nhân phong cùi từng được ngài giúp đỡ. Việc rửa tội cho bà vào chiều áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm năm ấy đã mở đầu và đánh dấu 90 năm tròn công cuộc truyền giáo cho người dân tộc trên vùng đất cao nguyên Lâm đồng nói chung và cho giáo phận Đà Lạt nói riêng. 10 năm nữa sẽ kỷ niệm tròn 100 năm, giáo phận Đà Lạt có cả một tấm gương sáng ngời để nêu cao và theo gót: tình thương chăm sóc bảo bọc những anh chị em dân tộc phong cùi xấu số nhất trần đời trong bối cảnh lúc đó.

-       14 năm sau, được bổ nhiệm làm giám mục Sàigòn, ngài chọn khẩu hiệu “Bác ái và yêu thương”, và tâm sự: “Người ta sẽ thay đổi y phục và chỗ ở của tôi, nhưng chẳng ai thay được con người chất phác của tôi”. Quả thật, về làm giám mục Sàigòn, ngài vẫn thường đi xe đạp hoặc xe vespa thăm các khu nghèo.

-       Lại 14 năm sau, khi phát hiện chính mình bị phong cùi, ngài viết cho cha Bề trên Tổng quyền MEP: “Xin cho phép tôi đệ đơn từ chức lên Tòa Thánh, và được rút lui về trại phong Di Linh, bên cạnh những con cái mà tôi yêu thương nhất”.

-       Trước khi chết vào năm 1973, ngài tâm sự với người nữ tu chăm sóc ngài: “Việt Nam chính là quê hương thứ hai của cha. Các con đừng lo, khi về với Chúa, cha sẽ vẫn ở với các con”.

-       Rồi hai dòng chữ khắc trên mộ ngài đây: “Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi không giúp đỡ được gì, hãy tha lỗi cho tôi” – “Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi đã làm gương xấu, hãy tha lỗi cho tôi”. Thật khiêm tốn và đầy yêu thương, yêu thương đến nỗi khắc khoải, đến chết vẫn nghĩ đến còn ai đó mình chưa giúp đỡ được gì, và tâm thành xin lỗi.

-       Phải chăng chúng ta có thể nói đến một trái tim tinh tế, nhạy cảm ; nhạy cảm trước tiếng kêu gào thảm thiết xin cứu giúp của đoàn người cùi mà chính ngài chứng kiến nơi vùng rừng sâu một ngày cuối thu 1928, để rồi ngay sau đó thành lập trại phong ; nhạy cảm để mỗi lần phải thuyết trình hay phải kể lại tình trạng khốn khổ của những đứa con phong cùi xấu số, ngài lại không cầm được nước mắt và mô tả như thể chính ngài đã từng trải: “Họ sẽ chết dần chết mòn một cách thảm khốc, sẽ gục ngã ở một xó kẹt nào đó rồi chết vì đói lạnh, mà chẳng ai hay biết…”.

-       Không những nhạy cảm, mà còn có thể nói đến một trái tim “si mê” không, yêu đến nỗi không muốn rời? Từ nhiệm chức vụ giám mục Sàigòn, ngài có thể về lại Pháp chứ. Thế nhưng, ước nguyện của ngài lại là trở lại Di Linh này để được sống và được chết giữa các con cái phong cùi của ngài, nơi ngài vừa làm cha sở, thầy giảng, giám đốc, y tá, chăm sóc các bệnh nhân cùi với sự cộng tác của các Sơ Nữ Tử Bác ái, như một quyết tâm nên một với các con cái cùi hủi của ngài. “Au milieu de mes Montagnards”, giữa các con cái người dân tộc của tôi”.

-       Chính “đức ái mục tử” đến “si mê” mà ngài dành cho anh chị em dân tộc phong cùi trên vùng đất Di Linh này đánh động chúng ta, và hướng tầm nhìn của chúng ta đến thời điểm mừng kỷ niệm 100 năm truyền giáo cho anh chị em dân tộc vào năm 2027. Xin anh chị em cầu nguyện cho các vị chủ chăn trong giáo phận Đà Lạt này được noi gương “đức ái mục tử” đến si mê của Đức Cha Gioan Cassaigne.

-       Chúng ta cầu nguyện đặc biệt cho Đức Cha Cassaigne nhân ngày giỗ thứ 44 của ngài. Nhưng chúng ta cũng hãnh diện và biết ơn vì tấm lòng và cả một cuộc sống trọn vẹn hiến dâng của ngài cho những anh chị em dân tộc phong cùi xấu số, để lại một tấm gương và một sức đẩy cho công cuộc truyền giáo qua những việc bác ái yêu thương phục vụ.

 

 

 

Previous
Next










Đức Cha Phó Đaminh Nguyễn Văn Mạnh