NHƯ MỘT CHIA SẺ:

TINH THẦN NHẬP THỂ TRONG VIỆC TRUYỀN GIÁO CHO CÁC ANH EM DÂN TỘC THIỂU SỐ

Thầy phó tế Francois Xavier K'Brel, Chủng Viện Simon Hòa Đàlạt

 

        Xét vì trong cả hàng ngũ tu sinh của Giáo Phận Đalạt, duy nhất chỉ có tôi là họ “Kơhô” (người Dân Tộc thiểu số sống tại Cao Nguyên Đàlạt), tôi không biết phải nói và viết gì, nên đành phải đem chuyện “Kơhô” mà chia sẻ vậy, để những chuyện khác cho anh em khác có kinh nghiệm và hiểu biết hơn, tôi thì viết và nói chuyện nọ sọ qua chuyện kia, tuy vậy cũng mong các bạn  thấy được một vài điểm nhỏ và thấy được sứ mạng của Hội Thánh chúng ta trong công cuộc truyền giáo cho các dân tộc anh em vùng Tây nguyên.

        Cách đây gần 50 năm, tôi còn nhớ rất rõ khi ấy làng của tôi có khoảng ba chục nóc nhà, có bấy nhiêu nóc nhà là có bấy nhiêu gia đình, hồi ấy thú rừng còn nhiều nên tiếng vượn hú, tiếng tác của đỏ, tiếng đa đa, tiếng con công, chim trĩ, gà rừng … sớm chiều còn nghe gần sát ngay ven làng, dân làng thì sống nghề nương rẫy, mỗi năm chỉ có một vụ mùa nên đời sống khá thảnh thơi, rất ít hay đúng hơn là chưa có chuyện bon chen và tranh chấp như thời nay.

        Thời tôi sinh ra thì đã có con đường quốc lộ rải nhựa mà dân làng gọi là “gùng tơi”, nghĩa là đường của Tây, danh từ này đã trở nên phổ thông để gọi con đường nhựa ngày nay. Ngày xưa đất rộng người thưa, từ làng này sang làng kia chỉ có những con đường mòn đi qua rừng, thường ít ai dám di chuyển đơn độc một mình, bởi vì những ông ba mươi mà dân địa phương gọi là Ồng pàng yàng dờng…, nghĩa là ông lớn, lâu lâu vẫn vồ những con trâu, con heo …, đôi khi cả người nữa nếu chẳng may gặp ông trong lúc bụng đói.

        Tôi nghe ông bà kể rằng: từ khi có con đường thì xe từ miền xuôi bắt đầu di chuyển lên, dân làng không còn phải đi chợ mua muối của người Yoăn (người Kinh) mãi tận Phan Thiết, hay Phan-rí nữa, đi chợ như vậy mỗi năm đi được có một lần vào mùa nắng, phải đi đường mòn qua rừng xa khỏang 100 cây số, họ đem con heo, con gà để đổi, chủ yếu là muối, cá khô và một vài vật dụng thiết yếu khác. Ngày xưa dân làng gọi là “lọt drạ” nghĩa là đi chợ, người ta đi chợ cả làng, phải đi bộ cả tuần lễ và ngủ đêm trên đường mòn, chẳng có và cũng chẳng cần cái quán trọ hay khách sạn như ngày nay, chỉ cần cái lưng, cái mặt đất và củi rừng là xong hết, gặp chỗ nào cũng có thể ngủ được, hơn nữa đối với họ lâu lâu ngủ rừng là một cái thú tuyệt vời.

        Đó là chuyện từ thời ông nội của tôi trở về trước, và có lẽ một phần thời ba má tôi nữa, còn tôi thì may mắn vì sinh sau đẻ muộn, nên sống vào cái thời có cái áo cái quần để mặc, tuy thời ấy rất hiếm nhưng cũng đã có người Kinh đem lên để cho người Thượng đổi bằng gạo rẫy hoặc bằng con gà con heo. Thế là thế hệ chúng tôi giã từ cái khố và vui vẻ tiến vào thời đại biết mặc cái áo quần. Cái khố có lẽ đã bắt đầu có từ khi có ông tổ Adong, còn thời đại biết mặc cái áo cái quần mới chỉ khỏang hơn nửa thế kỷ nay thôi.

        Chiếc khố chỉ rộng bằng bàn tay, dài khỏang bốn, năm gang tay là đủ dùng, với chiếc khố, với cái gùi trên lưng và xà gạc trên vai, cộng thêm cái ống điếu bằng tre lúc nào cũng ngậm trên  miệng phì phà bốc khói, đó là hình ảnh mẫu chàng thanh niên Kơho thời xưa, cũng ngang dọc khắp núi rừng, khắp xóm làng, cũng dựng vợ gả chồng “ầm ầm” như ai, chẳng cần gì cái quần dài  quần ngắn, áo này áo nọ rắc rối như ngày nay, cho đến hôm nay tôi vẫn hình dung và ái mộ hình ảnh chàng trai thời hoang sơ ấy: đó là các vị tiền nhân (50 năm trước) của tôi.

        Hồi ấy tôi hay nghe người ta kể một câu chuyện, khi quốc lộ 20 mới hoàn thành thì Tây cho xe cộ di chuyển lên, người Thượng lần đầu tiên thấy xe thì lấy làm lạ vô cùng, trẻ con thì kéo nhau ra coi vừa thích mà cũng vừa sợ, sợ nó tông chết, nên hễ đang đi đường mà thấy nó thì liền trốn chạy nấp đâu đó mà thò đầu ngó ra, bởi vì nó như con quái vật có hai con mắt, ban đêm thì sáng quắc, nó có miệng to và phát ra tiếng gầm gừ còn dữ hơn cả tiếng gầm của những ông ba mưoi ở rừng, đít thì luôn xịt khói trắng hay đen ngòm trông có vẻ quái dị.

        Có một làng nọ ở xa đường, nghe đồn có vật gì lạ lâu lâu chạy rần rần trên đường mạnh hơn cả con trâu, nên bèn kéo cả làng mang cơm mang gạo và ngủ đêm ven đường để chờ xem cho bằng được cái vật lạ ấy, về nhà thí kháo với nhau rằng: “Thứ gì mà lạ quá nhỉ, cơm nó chẳng ăn, nước nó chẳng uống, thế mà nó chạy rần rần khỏe hơn con trâu đực to nhất làng mình”.

        Và thế là thời đại văn minh kỹ thuật bắt đầu đặt chân lên miền Thượng của chúng tôi.

        Câu chuyện của tôi bắt đầu từ đó …

        Cho đến hôm nay khi đã lớn và có nhiều đổi thay, nhưng nhìn lại hình ảnh anh em mình từ xưa cho đến nay, tôi thấy anh em và chính bản thân mình vẫn thuộc hạng lận đận nhất, biết vậy và nói vậy mà chẳng làm gì được, có muốn làm thì chẳng biết làm sao bây giờ. Đứng trước thực trạng ấy tôi thú thực cảm thấy hơi buồn, hơi mặc cảm và tự hỏi mình rằng: Tại sao anh em mình lại yếu kém như vậy? Nhìn những hình ảnh xóm Thượng ngày xưa, giờ đây tôi có cảm giác bị tụt lại phía sau xa quá, công bằng mà nói có hưởng được một chút đỉnh thành quả của nền văn minh lòai người, cũng có điện dùng, cũng chạy xe hai bánh, cũng Tivi … Nhưng có lẽ chỉ 2-3% so với đà tiến của xã hội nói chung, tôi còn thấy nhiều anh em tôi vẫn với chiếc gùi trên lưng, vẫn xà gạc trên vai, vẫn với cái rổ  cái rá đi xúc cá như thời xa xưa, vẫn với đôi chân trời cho của mình, trong khi thiên hạ thì nườm nượp đủ thứ  lọai xe, từ xe gắn máy đến những loại xe hiện đại lướt nhanh trước mắt mình, để lại phía sau khói và bụi trước sự ngơ ngác của bọn mình: “Ôi ! Chắc người ta là con trời mới được vậy, còn bọn mình là con cháu của dân nghèo, dân khổ nên cứ phải chấp nhận số kiếp của mình”, tôi hay nghe cái kiểu phản ứng này nơi cửa miệng nhiều người già trong làng, nói vui cũng có, mà nói thật cũng có.

        Tôi thật sự có nghe  một số anh em tự nhận định về mình như sau: mình là dân nghèo nhất, dốt nhất, khổ nhất trên đất này, sự nhận định ấy đúng đến mức nào thì chưa biết, nhưng trong thực tế  có vẻ có nhiều phần đúng.

        Nhớ lại hồi đó khi mới biết Tin Mừng, một câu gây khá nhiều cảm xúc cho tôi: Phúc cho ai có lòng nghèo khó, vì Nước trời là của họ.

        Một lời quả thực có sức an ủi cho những thân phận nghèo, trong sự kém may mắn lại tiềm tàng một sự may mắn lớn  là Nước Trời, chính trong khung cảnh đơn sơ và nghèo khó mà người nghèo chiếm hữu được một lọai tài sản vô giá: lòng thương xót của Thiên–Chúa.

        Cách đây khoảng trên dưới 50 năm, một linh mục thừa sai Balê  là Cha Jacques Dournes sau khi sống trong một làng Thượng đã suy tư và viết ra một cuốn sách nhan đề: Dieu aime les paiens. Theo tôi được biết, qua tiếp xúc thực tế với dân Thượng, nghe nhìn trong tập tục cổ truyền của họ, nghiên cứu ngôn ngữ, ca dao tục ngữ của họ… vị Linh mục này cảm nghiệm và khám phá rằng: Thiên – Chúa  yêu thương những người Thượng. Ngài không xa họ trong niềm tin tự nhiên của họ, và họ có thể dễ dàng tìm gặp Ngài trong Giáo Hội của Ngài, trong Giáo Hội ấy, Yàng mà họ tôn thờ từ xưa vẫn giữ nguyên tiếng gọi, nhưng Yàng của Chúa Giêsu, là Cha đầy lòng thương  xót đối với họ, thay vì vị Yàng đòi hỏi họ phải tế trâu, tế dê, tế heo tế gà …, thì Ngài chỉ đòi họ lòng yêu mến để đáp trả tình thương bao la của Ngài. Cuốn sách này nay còn lại rất hiếm, tôi nghĩ rằng chứng từ của vị Linh mục Thừa Sai ấy, đã sống trước chúng ta cả nửa thế kỷ trước, có vẻ là một cái nhìn tiên tri về một dân tộc, điều ấy là một an ủi và khích lệ chúng tôi trong thời buổi lận đà lận đận này.

        Trong sự khốn khổ có cơ hội tìm được hạnh phúc. Quả vậy Thiên –Chúa là Cha đầy tình thương nên lẽ nào Ngài lại bỏ mặc con người trong thân phận khốn khổ. Những thập niên gần đây tôi thật sự chứng kiến một sự chuyển biến lòng người: Tin Mừng được nhiều người đón nhận mà điển hình là con số Kitô-hữu tăng lên rất khả quan trong con cái người Thượng, chỉ mong rằng thời thế sẽ thuận lợi hơn để có thể xây dựng Hội Thánh Chúa trong Cộng Đồng ngươì Thượng, ăn rể sâu trong truyền thống văn hoá mình. Đây mới chỉ là một tâm tình, một sự bắt đầu như tôi vừa nói, câu chuyện của tôi còn dài và còn lâu mới kết thúc, chỉ mong rằng đó là sự chia sẻ, một sự gợïi lại bầu khí truyền giáo đã được khởi sự trên phần đất Tây nguyên này.

Vẫn còn nhiều chuyện phải nói với nhau lắm, tôi nghĩ rằng được sống trong một thế giới mà chung quanh mình toàn những con người đơn sơ mộc mạc thì rất là hạnh phúc, bởi vì nơi đó ít điều kiện để cho sự gian dối phát triển, ít có tranh chấp, hay hơn là một thế giới được cho là văn minh theo kiểu mạnh được yếu thua.

Lâu nay khi đặt vấn đề: Truyền giáo cho anh chị em Thượng bằng cách nào? Dĩ nhiên có vấn đề văn hoá, vấn đề kinh tế xã hội nâng cao mức sống… và hiệu quả của những cách thức ấy cũng rất giới hạn, có nhiều khi chẳng làm được bao nhiêu vì những lực cản từ bên ngoài. Có thể nói sau bao nhiêu năm kinh nghiệm, tôi thích ý niệm chia sẻ nhiều hơn, truyền giáo là hiện diện để chia sẻ thân phận vui buồn của anh chị em, như kiểu nói của Thánh PhaoLồ: khóc với kẻ khóc, vui với kẻ vui. Sự chia sẻ ấy có thể dể dàng cảm thông với những con người cụ thể. Người ta có thể nói rằng: anh ấy cũng như mình, cũng lận đận, cũng thiếu thốn, cũng bị coi rẻ… Nhưng anh ấy vui, khi thấy anh ấy là thấy niềm hy vọng, dĩ nhiên đích điểm của con đường là ơn Cứu độ của Chúa dành cho mọi người.

Có một Linh Mục ở buôn Thượng nói với tôi rằng: Ngày nay có rất nhiều con người kinh tế, con người khoa học… nhưng lại rất ít con người có tâm hồn xã hội, những con người ấy phải là những con người nhạy cảm với các vấn đề của con người và tìm cách giải quyết vấn đề ấy trên căn bản tình người. Tôi nói ví dụ: lấy cách dạy ở trường người Kinh mà dạy cho các em học sinh Thượng, thì các em Thượng sẽ học không kịp và không học nỗi. Vì vậy, Thầy Cô dạy các em Thượng đòi hỏi phải tận tuỵ nhiều hơn, điều ấy lại đòi hỏi phải có lòng thương yêu các em. Hoặc nếu lấây cách thức làm ăn của người Kinh áp dụng cho người Thượng thì có khi sẽ lổ to, người ta đổ tiền bạc tỉ ra đầøu tư cho hàng trăm mẫu cà phê cho một làng vùng sâu nọ mà không tận tình hướùng dẫn họ canh tác, cuối cùng khi trở lại thăm thì cỏ tranh tốt hơn cây cà phê. Tôi nhớ hồi xưa có một chuyện buồn cười như sau: có một tổ chức nọ đem phô-mát phân phát cho các gia đình Thượng mà không cho họ biết công dụng cuả nó là gì, nó to và cứng nên họ tưởng cục xà phòng, thay vì ăn thì họ đem ra gội đầu. Phương pháp không hiệu quả nếu thiếu cái nhìn xã hội, mà cái nhìn xã hội đòi hỏi phải có cái tâm, tôi muốn nói là tâm hồn biết nghe và nhìn vớí con mắt bác ái, chính điều ấy làm ta am hiểu vấn đề và giải quyết nó đúng chổ hơn.

Có những Linh mục và chủng sinh trẻ đặt vấn đề với tôi rằng, làm thế nào để học ngôn ngữ Thượng cho thông để khi được sai đi truyền giáo cho họ thì vốn liếng ngôn ngữ của mình kha khá. Tôi có ý kiến rằng điều ấy kể cũng cần thật, nhưng tôi vẫn thấy một vài linh mục rất được người Thượng yêu mến, trong khi các ngài biết rất ít tiếng của họ. Vậy là chính tâm hồn yêu thương, chia sẻ, cảm thông đã làm cho các vị ấy thành công nhiều hơn. Nói xa chẳng qua nói gần, tôi muốn chia sẻ về chính ngôn ngữ chia sẻ, không chỉ là sự chia sẻ về một vài kiến thức này kia, hoặc ngay cả chia sẻ kinh nghiệm sống đạo, kinh nghiệm thiêng liêng, nhưng là chia sẻ thân phận cuả anh chị em, điều ấy tôi nghĩ rằng giống như Đức Giêsu, Ngài đã đến để chia sẻ kiếp làm người cuả chúng ta, chỉ trừ tội lỗi mà thôi.

Môi trường gia đình là nơi người ta học và thực hành và chia sẻ rất nhiều, đến nỗi hai thân phận trở nên một, rồi sự chia sẻ ấy được mơ ûrộng ra nơi con cái, đã là một thành viên của gia đình thì trở nên tất cả cho mọi người, không còn gì là riêng tư nữa, người ta phải mở rộng cõi lòng mình ra, phải đẩy lùi những khuynh hướng ích kỷ, phải bao dung với con cháu, có như vậy bầu khí gia đình sẽ luôn là nơi dể dàng cho sự hội tụ và cảm thông. Tôi không dám múa rìu trước mắt thợ, bởi lẻ một người cha hay một người mẹ đã hiểu rất rõ về chia sẻ trong đời thường. Một Linh mục, một tu sĩ, một người đi rao giảng ở vùng Thượng, hay những người nghèo khác quả thật luôn bị một sự đòi hỏi: hãy trở nên tấm bánh cho người ta ăn.

Trong một khu xóm, trong một công sở, trong một xí nghiệp, trong một mái trường… chia sẻ luôn là một việc làm đáng quí trọng, bởi vì nó phát sinh từ một tâm hồn thiện hảo, cầu nguyện cho họ trong mọi cảnh huống của cuộc đời, tôi thich khung cảnh một làng, một khu xóm, nó khác với sự kín cổng cao tường của chốn đô hội ngày nay, nơi đó người ta chỉ nghĩ tới công việc, ngoài ra thì đường ai nấy đi.

Tôi còn phải suy nghĩ về chuyện này nhiều trong môi trường của tôi, sao cho Tin Mừng được rao giảng không chỉ bằng lời, mà bằng cách sống gần gũi chia sẻ với anh chị em chung quanh. Tôi nghĩ gia đình Tu Sinh của Giáo Phận Đàlạt, nơi tôi đang sống trong sự đùm bọc của Đức Cha, các Cha, và của mọi anh em tu sinh là nơi rất tốt, rất quí để tôi học và thực hành tinh thần chia sẻ được gợï hứng từ Tin Mừng.

 

Mùa Vọng 2005


Về Trang Mục Lục