NHA THO DIOM

SÀNG KUH TƠLBĂT DIOM

 

Bước vào năm 2007 là năm Giáo Phận Đà Lạt kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho người Dân tộc, dựa vào sự kiện ngày 7-12-1927 là ngày bà Maria K’Trut, người K’Ho đầu tiên, được Đức cha Gioan Cát-Sanh (Jean Cassaigne) Rửa tội tại Di Linh. Trong Giáo Phận Đà Lạt, ngoài phần lớn anh chị em dân tộc K’Ho ra, còn có một số khá đông anh chị em dân tộc Churu tập trung ở hai Giáo Hạt Đơn Dương và Đức Trọng với khoảng 26 ngàn người.

Năm 2008 sắp tới là tròn kỷ niệm 50 năm truyền giáo cho người Churu vùng Đơn Dương, Giáo Xứ Lạc Viên đang cố gắng để phục hồi ngôi nhà thờ Diom vì đây là ngôi nhà thờ đầu tiên của người Churu được hình thành ở buôn làng Diom thuộc Dran, Đồng Nai Thượng (Haut Donnai). Đây là một cố gắng vừa để đáp ứng nhu cầu tôn giáo của hơn 2500 bà con giáo dân khu vực bên Nam sông Đa Nhim, vừa là trở về nguồn cội để tạ ơn Thiên Chúa, tôn vinh các vị truyền giáo đã mở đường gieo trồng hạt giống Tin Mừng và biết ơn các bậc ‘già làng’ ngày xưa đã hăm hở đón nhận Tin Mừng và truyền lại đức tin cho con cháu.

Chúng ta hãy lần trở lại lịch sử cách đây 50 năm, vì “uống nước nhớ nguồn”, “-bơêng boh sơđơêr aràng pơla kơyơu” và bổn phận của con cháu là phải gìn giữ và tôn tạo những gì cha ông đã để lại. Đúng như câu nói của người Churu : “Anà m’nuih h’diuê huê phuên jơi t’lơi akuh, huê yău huê pa nơên ka huê buôl drêi ni” (Con người sống có cội có nguồn, có cũ có mới mới có chúng ta hôm nay).

 

I * GIÁO ĐIỂM TRUYỀN GIÁO DIOM

Người ta thường nói người Churu có cùng một nguồn gốc với người Chăm vì thuộc ngữ hệ Mã Lai – Pôlinêdi, khác với người K’Ho thuộc ngữ hệ Môn-Khơmer. Do chiến tranh và chính sách triều cống khắc nghiệt khiến họ phải chạy trốn lên vùng núi tìm đất sống. Tên gọi “Churu” có lẽ bắt nguồn từ chữ “Chăm bruh”, nghĩa là ‘người Chăm chạy trốn’. Ngày nay người Churu hiện sinh sống ở hai vùng chính là Lâm Đồng (Đơn Dương và Đức Trọng)  và Phan Rang (An Sơn).

Trước khi bác sĩ Yersin khám phá ra vùng cao nguyên Đà Lạt năm 1983, chúng ta phải nói đến bước chân của giáo sĩ Gonzague Vilaume (cha cố Đề) chạy trốn khỏi cuộc bắt đạo của nhóm Văn Thân, trèo lên dãy núi Phan Rang đến Dran, men theo con sông Đa Nhim (bây giờ là vùng Đơn Dương) xuống Di Linh để tìm đường về Sài Gòn. Công cuộc truyền giáo cho người Thượng vùng cao nguyên Lâm Đồng chỉ thực sự khởi sắc từ đức cha Gioan Cát-Sanh với việc Rửa Tôïi cho một người K’Ho đầu tiên là bà Maria K’Trut (7/12/1927) và tiếp theo sau đó là hàng trăm người K’Ho khác được Thánh Tẩy ở các làng Dong Dòr, Klong Trau, Kala … thuộc vùng Di Linh. Hiện nay con số tín hữu người Thượng Công Giáo tại Giáo Phận Đà Lạt là hơn 100.000 người, chủ yếu là dân K’Ho.

Cha Gioan Cát-Sanh còn mở rộng họat động truyền giáo ở vùng Bắc Hội, và người tín hữu K’Ho đầu tiên của vùng này là anh K’Brai chịu Thánh Tẩy ngày 19/3/1930. Cha còn họat động truyền giáo ở cả họ đạo Xuân Trường, Cầu Đất, xây dựng nhà thờ Công Hinh là nhà thờ Bảo Lộc bây giờ, rồi đến K’Long, Kala… Tuy nhiên việc truyền giáo cho người Thượng vùng Đơn Dương (Dran) chỉ thực sự bắt đầu vào năm 1957 với việc cha Darricau thiết lập Trung Tâm Truyền Giáo Thượng M’Lon ở Thạnh Mỹ bây giờ. Từ thí điểm truyền giáo này, cha Darricau phục vụ những người K’Ho ở M’Lon, M’Răng, Labouye dọc theo đường lộ, đồng thời cha cũng tìm sang làng Diom ở bên Nam sông Đa Nhim để truyền giáo cho người Churu.

Có thể nói công cuộc truyền giáo cho người Churu đã khởi sự từ năm 1954 khi cha Darricau đang ở Dran để phục vụ cho ba cộng đoàn người Kinh, thì cha đã có cuộc gặp gỡ với người Churu nhưng tiếc rằng ngay năm đó cha lại được đổi đi Kala, Di Linh. Hoặc trước năm 1954 đã có các cha thừa sai ở nhà thờ Đà Lạt như cha Parrel, một vài cha phó người Việt, như cha Phêrô Thông, cha Giuse Quang, hoặc các Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn cũng đã tìm đến Diom để làm việc từ thiện như phân phát quần áo, gạo thóc, thuốc men. Phải đợi đến năm 1957 khi cha Darricau trở lại Dran, thiết lập Trung Tâm Truyền Giáo Thượng M’Lon (1958) rồi dựng nhà thờ tại Diom thì công cuộc truyền giáo cho người Churu mới thực sự khởi đầu và mang lại kết quả.

Cùng với cha Darricau có cha Grison dạy giáo lý, vun trồng đức tin cho người Churu nhưng chưa vội vàng Thánh Tẩy. Năm 1961, cha Darricau giao vùng Nam sông cho các cha dòng Lazarites (Vinh Sơn) để phục vụ người Churu. Cha Cartier rồi cha Dulucq (Lazaristes) tiếp tục công việc khai tâm Kitô giáo cho người Churu ở làng Diom với sự hỗ trợ của cha Darricau. Và rồi ngày trọng đại đã đến, năm 1962 Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, giám mục Giáo Phận Đà Lạt, đã đến cử hành thánh lễ ban bí tích Thánh Tẩy cho Già làng Touneh Hàn Đăng, một người có uy tín trong làng. Sáu đó cụ đã kéo theo 5 làng cùng nhập đạo vào năm 1963, các gia đình nhổ bỏ các cây nêu cúng Yàng rồi treo Thánh giá trong nhà. Tuy nhiên người Kitô hữu Churu đầu tiên lại là Touneh Hàn Thọ, con của Già làng Touneh Hàn Đăng, chịu phép Thánh tẩy vào năm 1955 tại Nhà thờ Đà Lạt khi đang theo học ở trường Tây (về sau ông có văn bằng Tiến sĩ xã hội học ở Bỉ).

Như vậy, tại Giáo Hạt Đơn Dương có thể gọi M’Lon là chiếc nôi đức tin Kitô giáo của người K’Ho, và Diom là chiếc nôi đức tin của người Churu. Chính từ Diom (1958) mà đức tin Kitô giáo được nhân rộng cho các làng Churu dọc dài theo Nam sông Đa Nhim cho tới vùng Đức Trọng.

“Diom” , nguyên thủy đọc là “Jơm”, không hiểu các cha Tây nghe thế nào mà lại phiên âm là Diom, và thế là chữ Diom trở thành ký tự chính thức của làng Jơm. Theo cụ già làng Touneh Hàn Đăng giải thích : Diom đọc là Jơm, mà Jơm là tủ kín lại, do sự  kiện ông bà tổ tiên của làng Diom ngày xưa có họ hàng gần gũi với nhau mà lại bắt nhau (kết hôn). Đó là điều xỉ nhục cho gia đình dòng tộc, nên họ đã trốn đến một khu rừng rậm, sinh sống ở nơi um tùm cây cối để che mặt dòng tộc. Từ đó, người ta gọi buôn làng này là Jơm, và khi cha Darricau đến truyền giáo đã viết tên cho làng này là Diom. Có hai làng Diom, gọi là Diom proêng và Diom tìt, nghĩa là Diom lớn và Diom bé, và sau này gọi là Diom A và Diom B.

Tháng 10 năm 1975, cha Berset, người bám trụ ở Diom, đã bị trục xuất khỏi Việt Nam. Nhà thờ Diom bị đóng cửa và gần như không sinh hoạt phụng vụ nữa. Toàn bộ khu đất nhà thờ Diom cũng bị trưng dụng làm của công, ngôi nhà thờ cũng xuống cấp và cuối cùng đã bị phá dỡ vào năm 1990. Hiện giờ vẫn còn nền nhà thờ tráng xi măng, có một cấp cung thánh cao hơn nền khoảng 20 cm, và còn lại hai lỗ trống ngày xưa chôn chân bàn thờ bằng hai khúc gỗ tròn.

II * GIÁO XỨ LẠC VIÊN

Sau năm 1975, giáo điểm truyền giáo Diom mất chỗ dựa khi các cha Tây bị trục xuất, nhà thờ bị đóng cửa, giáo hữu Diom chỉ còn cách lặn lội qua sông đến các Giáo Xứ gần nhất để tham dự thánh lễ hoặc xin Rửa Tội cho con cháu. Giáo Xứ Lạc Viên giờ đây lại thêm một trọng trách và cũng rất vinh dự được đón tiếp các anh chị em Churu gia nhập Giáo Xứ. Ngòai ra, Giáo Xứ Lạc Viên còn đón tiếp cả anh chị em K’Ho thuộc giáo điểm Labouye nằm ở đầu thôn Lạc Viên. Ngôi nhà thờ Labouye khá nhỏ xây dựng năm 1958, nằm ở bên quốc lộ 21, sau gốc cây đa cổ thụ, tường gạch, xà gỗ lợp tôn. Những năm sau 1975, linh mục Quản Xứ Lạc Viên thỉnh thoảng đến dâng lễ an táng cho dân Labouye, rồi một thời gian sau thì ngưng hoạt động. Năm 2005, một cơn mưa gió đã làm sập mái đổ tường và đã phải gỡ bỏ.

Cũng cần nói thêm, Giáo Xứ Lạc Viên được thành lập từ năm 1955 sau cuộc di cư 1954, một số gia đình gốc Phương Quan, Hải Dương tách ra từ trại di cư Lạc Lâm, tìm đến đất Labouye của người Thượng để dễ bề sinh sống. Dân chúng kéo đến mỗi lúc một đông. Nhu cầu tôn giáo đòi hỏi cần phải có một ngôi nhà thờ, dù là tạm bợ, để tham dự thánh lễ, lãnh nhận các bí tích, đọc kinh sớm tối … Họ đã sớm xin các Đức Giám Mục cắt cử chủ chăn về coi sóc Lạc Viên. Ngày 15-8-1955, cha Giuse Hòang Công Độ, đang coi xứ Ma Lâm, Phan Thiết, được cắt cử về chăm sóc đàn chiên nhỏ bé này, và mãi đến ngày 9 – 12 -1955 cha Độ mới chính thức về nhận nhiệm sở nhưng lại tạm trú ở Lạc Lâm cho đến khi Lạc Viên có nhà xứ hẳn hoi.

Cha Giuse Hoàng Công Độ (dòng Đaminh), Quản Xứ tiên khởi của Lạc Viên từ năm 1955 đến năm 1966. Ngài đã xây dựng ngôi nhà thờ Lạc Viên hiện nay, khá lớn (lọt lòng 18mx44m), thi công trong 6 tháng và khánh thành vào tháng Tư năm 1964. Cha Giuse Hòang Công Độ được lệnh thuyên chuyển, nhường chỗ cho cha Giuse Hòang Kim Thao (cũng dòng Đaminh) từ năm 1966 đến năm 1971. Kể từ năm 1971, Giáo Xứ Lạc Viên được chuyển sang cho các linh mục Giáo Phận cai quản. Cha Phêrô Trần Bảo Thạch đang làm giám đốc Tiểu chủng viện Simon Hòa Đà Lạt được bài sai về Lạc Viên làm Quản Xứ, và sau năm 1975 cha lại kiêm nhiệm thêm chức Quản Hạt Đơn Dương cho đến năm 2004 về nghỉ dưỡng ở Bảo Lộc (và qua đời ngày 20/7/2006). Cha Phaolô Phạm Công Phương, đang làm phó Chánh Tòa, được cắt cử về thay thế từ tháng 11/ 2004 đến nay.

III *  NHU CẦU CẦN CÓ THÊM MỘT NGÔI NHÀ THỜ MỚI

Ngôi nhà thờ Lạc Viên hiện nay với 43 năm tuổi đời mưa gió, một vài chỗ xuống cấp, rất nhiều đường nét trang trí quá thô sơ vì thời đó không đủ kinh phí, vôi đã bạc màu rêu phủ, cũng đến lúc phải sơn sửa. Tuy nhiên, sẽ là một lãng phí khi bỏ công tu sửa nhà thờ Lạc Viên vì nhu cầu cấp thiết lúc này là phải hình thành nhà thờ Diom trước đã. Hơn nữa, với con số giáo dân là hơn 5000 người thì nhà thờ Lạc Viên trở nên quá tải trong các thánh lễ ngày Chúa Nhật. Việc phục hồi nhà thờ Diom không những có đủ chỗ cho các tín hữu tham dự thánh lễ cách sốt sắng, mà còn giải quyết vấn đề đi lại thuận lợi và gần gũi cho hơn 2500 tín hữu, đặc biệt là người Thượng vùng xa.

Ngay từ thời cha cố Phêrô Trần Bảo Thạch, ngài đã quan tâm đến bà con giáo dân Nam sông và muốn xây dựng một ngôi nhà thờ tương tự như nhà thờ Lạc Viên cho khu vực Diom. Ngày 14-9-2003 cha cố Phêrô họp cộng đòan Giáo Xứ để chuẩn bị cho việc xin xây dựng một ngôi nhà thờ bên Nam sông. Có gia đình ông Nguyễn Văn Tuynh sẵn lòng dâng hiến đất để xây dựng nhà thờ (6000 m2) và gia đình ông Nguyễn Đình Thịnh dâng đất để mở con đường (1400 m2) vào nhà thờ; sau này có gia đình ông Nguyễn Văn Thục dâng 2860 m2 để làm nhà giáo lý và nhà hội. Khu đất này nằm ở thôn kinh tế Giãn Dân của khoảng 500 người Kinh, nhưng đây lại là vị trí trung tâm của các buôn làng Diom A và Diom B, Kinh tế mới Châu Sơn và B’Kăn, Tân Hiên … Số giáo dân của khu vực Nam sông hiện tại đã hơn 2600 người (hơn 500 người Kinh và hơn 2000 người Thượng, đa số là Churu).

Ngày 20 – 9 – 2003, cha cố Phêrô đã làm tờ trình lên Đức Giám Mục Giáo Phận để xin xây dựng nhà thờ Diom, và ngày 29 – 6 -2005 đã làm đơn lên Ủy Ban Nhân Dân Xã và Huyện Đơn Dương để nguyện ước có một ngôi nhà thờ bên Nam sông được sớm hình thành. Năm 2005 đến 2006, cha phó Gioan Phạm Minh Phụng được ủy quyền để đứng ra xin xây dựng nhà thờ Diom, song giấy tờ vẫn trì trệ, không kết quả. Bước vào năm 2007, cha xứ Phaolô Phạm Công Phương đã xúc tiến lại đơn từ, và ngày 11/5/2007 Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Lâm Đồng đã ký công văn 3050/UBND-NC v/v “cho phép xây dựng nhà nguyện Công Giáo tại thôn Giãn Dân”.

Từ những khát mong rất chính đáng này, toàn thể Giáo Xứ Lạc Viên đã cố gắng và sẽ phải hết mình để nguyện ước chung của mọi người được hiện thực. Từ nhà thờ Lạc Viên đến nhà thờ Diom sẽ xây dựng không cách xa bao nhiêu xét theo đường chim bay nhưng quá nhiều trở ngại khi dân Diom phải sang Lạc Viên tham dự phụng vụ. Con sông Đa Nhim là nguồn nước kinh tế nuôi sống cả vùng nhưng lại gây trở ngại giao thông. Chỉ có một cái cầu tạm cho người và xe hai bánh đi lại trong mùa nắng, mùa mưa lại quá lầy lội, còn mùa nước lũ thì chẳng thấy cầu đâu. Nhiều lúc giáo dân Diom đi sang Lạc Viên tham dự thánh lễ thì vẫn đi được, nhưng lúc trở về thì nước đã dâng cao tới năm thứơc, không về được nhà bèn quay trở lại Lạc Viên tìm chỗ ngủ qua đêm. Đi vòng ngả Kađô hay Châu Sơn thì quá xa, không có phương tiện xe khách, còn xe tải hay xe cầy thì không được phép di chuyển trên đường lộ. Thiết lập một cây cầu vượt lũ không đơn giản và nằm ngoài tầm tay của Giáo Xứ. Ngày xưa còn có đò qua sông nhưng quá nguy hiểm nên bây giờ chẳng còn ai sắm thuyền nữa.

IV * NHỮNG NỖ LỰC PHỤC HỒI NHÀ THỜ DIOM

Năm 2007 chuẩn bị cho công trình xây dựng nhà thờ Diom, đồng thời cũng là lúc Giáo Xứ thấy cần phải tìm lại các hiện vật của nhà thờ Diom ngày xưa. Sau một thời gian dò hỏi đã tìm ra một ngôi nhà Tạm bằng gỗ (sàng dò dơh), bên trên có để Thánh Giá Chúa chịu nạn (Kơyơu bơkăl), một chén lễ (cêoàn tơ-à) của cha Berset, 4 chân nến, một miếng đá chạm xương thánh gắn ở bàn thờ Diom (pơtơu siàm sơcêih dò sơbăn pơtri), một cuốn sách Nghi thức tuần thánh bằng tiếng Latinh xuất bản năm 1955, một hình Đức Mẹ vẽ trên ván ép to khoảng gần 4 mét vuông đã bị vỡ nát và Giáo Xứ đã hàn gắn lại, và một tượng Chúa chịu nạn bằng gỗ dùng để hôn kính Thánh Giá trong các ngày thứ  Sáu tuần thánh.

Công trình xây dựng nhà thờ Diom chỉ là phục hồi một trong 4 ngôi nhà thờ của người Thượng có từ thời các cha Tây mới truyền giáo. Nhà thờ Labouye của người K’Ho xây dựng năm 1959, nhà thờ Diom’B năm 1960, và nhà thờ B’Kăn (B’Keh) năm 1961. Ngôi nhà thờ mới sẽ xây dựng vẫn giữ tên gọi truyền thống của người Churu là Nhà thờ Diom proêng, ngôi nhà thờ đầu tiên của người Churu (1958). Nhà thờ mang hình tháp theo kiểu Gothique cổ kính của Tây phương để mãi mãi tri ân các Cha truyền giáo người Tây phương, đồng thời kết hợp với một vài nét trang trí theo hoa văn của người Thượng. Nhà thờ có một tháp cao 25 mét ở chính diện, rộng19 mét, dài 41 mét, có sức chứa khoảng 800 người, hoặc nếu tận dụng hành lang có thể chứa nhiều hơn.

Hiện nay khu đất xây dựng nhà thờ Diom không phải là khu vực nhà thờ Diom ngày xưa, song là một khu đất ở thôn Giãn Dân được giáo dân hiến tặng cho Giáo Hội, và nhà nước đã ra quyết định thu hồi số đất đó để cấp đất cho Tòa Giám Mục xây dựng nhà thờ. Trước khi xây dựng nhà thờ cần phải làm các công trình phụ như : đào giếng, khu vực vệ sinh, kho bãi cũng là nhà xứ sau này, rồi mới đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ.

Hầu hết người Thượng trong Giáo Xứ không đói nhưng không hẳn là đủ no vì kinh tế quá thấp, làm ăn ít vốn liếng. Xét về đạo giáo thì gần như toàn tòng Công Giáo, rất nhiệt thành trong công tác chung. Mai kia có phải điều công phụ nhà thờ thì rất hăng hái, nhất là có thêm bữa ăn trưa. Nói chuyện đóng góp, ngoài công sức ra thì mọi sự đều nằm ngoài khả năng của người Thượng. Giáo Xứ Lạc Viên đang chuẩn bị kinh phí xây dựng nhà thờ Diom qua việc đặt thùng tiết kiệm tại nhà thờ để các gia đình nỗ lực và kiên trì trong việc dành dụm hàng tuần hay hàng ngày để góp phần vào việc xây dựng nhà Chúa. Đây là công trình của tất cả mọi người, già trẻ lớn bé, người giàu hay người nghèo, người Kinh hay người Thuợng đều có thể góp phần xây dựng. Dân Lạc Viên sẽ gắng hết sức để gánh đỡ nhưng cũng không thể đơn phương hoàn thành nhà thờ mà không có sự rộng tay giúp đỡ của mọi người mọi nơi.

Thay mặt cho hơn hai ngàn người Thượng (Churu, Chil, Chăm, K’Ho, Sré …) vùng Nam sông Đa Nhim, linh mục Quản Xứ Lạc Viên kêu gọi và rất mong được những tấm lòng quảng đại giúp đỡ cho ngôi nhà thờ Diom mau chóng hoàn thành để phục vụ những anh chị em nghèo khổ về vật chất nhưng được nâng đỡ về tinh thần khi có một ngôi nhà thờ ở giữa buôn làng. Dĩ nhiên, vấn đề khuyến học, dạy nghề, trợ cấp, nhà cửa, làm ăn kinh tế vẫn là công việc mà Giáo Xứ đã và vẫn đang làm cho đồng bào Thượng.

Nguyện xin Thiên Chúa qua sự chuyển cầu của Đức Maria, thánh cả Giuse – bổn mạng của Giáo Họ Diom – chúc lành và trả công bội hậu cho quý vị ân nhân.

 

Lạc Viên  ngày  23  tháng 5 năm 2007

 

Lm. Phaolô Phạm Công Phương

Quản xứ

Nhà thờ Lạc Viên, xã Lạc Xuân,

huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. VN

063847232   -   0988401864 - plpcp@hcm.vnn.vn

 

--------------------------------
Lễ Tổng Kết Năm Học Giáo Lý 2010 - 2011 và Thánh Lễ Bao Đồng tại Giáo Họ Diom - Giáo Xứ Lạc Viên
Trở Về Trang Các Giáo Hạt | Trở Về Trang Nhà