GIÁO XỨ CHI LĂNG

Cái tên Chi Lăng chỉ mới có từ năm 1957. Trước kia, miền này được gọi bằng tên Pháp là Cité St. Benoit. Có hai giả thiết về nguồn gốc địa danh Cité St. Benoit này. Giả thiết thứ nhất cho là địa danh này bắt nguồn từ sự kiện vào tháng 12 năm 1936, có ba linh mục Pháp Dòng Thánh Biển Ðức (Benoit) sang truyền giáo ở Ðông Dương, đã cư ngụ gần hồ Than Thở hiện giờ và đến năm 1937-1939, nhiều biệt thự của người Pháp mọc lên ở khu vực này, lập thành Cité St. Benoit. Còn theo giả thiết thứ hai, địa danh này đã do ông Mieville, quốc tịch Pháp đặt ra. Ông là người đầu tiên đến khu vực này vào ngày 21-7-1923, xin khai hoang trồng tỉa và lập trại chăn nuôi bò.

Cho đến những năm 1948-1953, khu vực này còn thưa thớt người, đa số là những gia đình quân đội Pháp. Chỉ từ khi Cité St. Benoit được đổi thành tên Việt Nam là Chi Lăng (năm 1957) nó mới thay đổi bộ mặt: Người tứ xứ đua nhau về kiếm đất, xây nhà, mở tiệm buôn bán và đến thập niên 60,70 ngày càng phát triển, nhà cửa khang trang, phố xá sầm uất.

Về mặt tôn giáo, từ năm 1955 về trước, khu Chi Lăng chưa có nhà thờ. Các cha mượn tạm một căn nhà của Société Dalatoise Construction, trước đây là rạp xinê Tapager, rồi sửa sang lại để làm lễ Chúa Nhật cho giáo dân.

Phải đến giữa năm 1964, cha Giuse Nguyễn Hữu Ðỉnh DCCT mới tổ chức thành khu giáo Chi Lăng gồm các ấp: Sào Nam, Tây Hồ và Thái Phiên. Ðúng 3 năm sau, đang lúc khu Chi Lăng ngày càng phát triển, cha Giuse Ðỉnh ngộ nạn và từ trần trên đường từ Sài Gòn về Dalat (1967).

Nối tiếp cha là cha Ðinh Cao Thuấn. Cha xin mấy nữ tu thuộc tu hội Nazaret Phú Nhuận, Gia Ðịnh về Chi Lăng để giúp đỡ việc đạo. Tu hội này do cha Phạm Quang Tuyến tự là Ngọc Toàn sáng lập. Thấy sinh hoạt phồn thịnh ở Chi Lăng, đầu năm 1968, cha Toàn cử bà Tổng quản lý tu hội lên mua đất xây dựng cơ sở cho tu hội. Ðược phép của giáo quyền (Ðức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền với sắc lệnh ký ngày 2-2-1969) tu hội đã xây cất các cơ sở cần thiết và sau khi làm xong tu viện cũng như trường học, cha Toàn xây thêm một dãy nhà bên kia đường Mê Linh, với ý định làm cơ sở đào tạo nam tu sinh hội thừa sai Nazarét. Nhưng vì không được chấp thuận lập hội thừa sai này, cha đã quyết định dâng ngôi nhà này cho giáo phận Dalat để làm nhà thờ cho khu giáo Chi Lăng.

Ngày 26-7-1970, Ðức Cha ban sắc lệnh thành lập xứ Chi Lăng bao gồm các họ: Họ thánh Giuse Thợ, họ trại Mát, họ Trại Hầm, họ Ða Thọ. Các Dòng tu nằm trong giáo xứ khi đó có: Dòng Tên, Ða Minh, Chúa Quan Phòng, Nazaret.

Ngày 2-9-1970, Ðức Cha về làm phép và khánh thành tân Thánh Ðường Chi Lăng. Giáo xứ chọn Thánh Gia Thất làm Bổn Mạng. Ngày 21-9-1970, Tòa Giám Mục cử cha Anphong Trần Ðức Phương làm cha xứ tiên khởi của giáo xứ. Trong thời gian này, vì giáo xứ chưa có nhà xứ, cha Phương chỉ đến làm lễ rồi về. Nhà xứ được khởi công xây cất từ 1-5 đến 28-12-1971 và được Ðức Cha về làm phép ngày 6-1-1972. Sau cha Phương, vào ngày 3-7-71 TGM cử cha Giuse Chu Huy Chầu, phó xứ Tân Thanh về nhận chức cha xứ Chi Lăng, cho đến sau năm 1975, cha bị bệnh xin về gia đình dưỡng bệnh (26-6-77). Từ đây giáo xứ được cha Giuse Võ Ðức Minh, thư ký TGM, và cha Giuse Lê Minh Tính coi sóc cho đến 21-9-1981 thì giáo xứ vắng bóng linh mục.

Ít lâu sau, ngày 25-12-1981, nhân dịp mừng lễ Chúa Giáng Sinh, cha Matthêu Ðinh Viết Hoàng, phó xứ chánh tòa Dalat được cử phụ trách giáo xứ và cử hành phụng vụ các Chúa Nhật và lễ trọng cho giáo dân.

Ðến 30-6 năm 1991, cha Matthêu Hoàng thôi đảm trách giáo xứ để chuyên chú với nhiệm vụ phó xứ Chánh Tòa. Ðổi lại, Ðức Cha đã bỏ nhiệm cha Antôn Nguyễn Ðức Khiết, từ giáo xứ Tạo Tác, về làm cha xứ của giáo xứ. Hiện nay Giáo xứ Chi Lăng do Linh Mục Phêrô Trần Ðình làm cha xứ.


Hạt Đàlạt