CÁC GIÁO SỞ DÂN TỘC
VÙNG ÐỨC TRỌNG VÀ PHÚ SƠN

I. Một đồng lúa chờ gặt

Cánh đồng truyền giáo rộng lớn về diện tích (bao trùm từ Phú Sơn cây số 29 đến cây số 50 thuộc quốc lộ 27, nối liền Liên Khương-Buôn Mê Thuột) có thể được coi là một cánh đồng truyền giáo hình thành từ sự tình cờ ngẫu nhiên. Nhưng đúng hơn và theo cái nhìn đức tin, phải nói là từ sự quan phòng của Chúa.

Mọi chuyện khởi đầu với sự kiện Dòng Chúa Cứu Thế vào Phú Sơn mở đồn điền trà-càphê và đặt cơ sở truyền giáo vào năm 1956. Vì nhu cầu, nhà Dòng phải thuê một số người Dân Tộc ở địa phương làm nhân công. Khi làm việc, đa số họ thường mắc bệnh sốt rét rừng. Các Cha Lapointé và Drouin đã phát thuốc quinine, chloroquine cho họ và cơn bệnh được chữa khỏi mau chóng. Lập tức các cha được đồn thổi như những "vị phù thủy mới" quyền năng gấp bội so với mọi phù thủy đang hành nghề trong vùng. Tài chữa bệnh lại thật đơn giản: không cần cúng dê, vịt, rượu, không cần đích thân đến nhà, mà chỉ có vài viên thuốc vàng hay đỏ, gói đem về nhà xa uống vẫn hiệu nghiệm. Nhờ quen biết dần với một số người, hai cha sắm ngựa và bắt đầu đi thăm các làng xóm dân tộc. Cha Lapointe có bộ râu dài được đặt tên là cha già và rất được nể trọng. Cha Drouin được gọi là cha trẻ thì chiếm cảm tình của mọi người nhờ bộ tông đơ hớt tóc và những túi thuốc tây. Dần dần có một số người xin theo đạo. Ðược sự cộng tác của vài thầy trợ sĩ Việt Nam và các nữ tu Dòng Vinh Sơn, các cha vừa xúc tiến việc khai phá đồn điền, vừa qui tụ trẻ em dân tộc từ các làng heo hút và tổ chức việc học hành cho chúng. Dĩ nhiên lúc đầu việc gì cũng khó khăn và phải lâu lắm mới được người Dân Tộc chấp nhận. Năm 1958, đứng trước triển vọng của miền truyền giáo mới mẻ, các cha đã xây cất một thánh đường kiên cố với một khu nhà xứ gồm nhà cha xứ, nhà các nữ tu và trường nội trú. Ðến đầu thập niên 1960, các cha còn được tăng cường bằng một số cha nữa: như cha Vaillancourt, cha Boissonnault, cha Côté, Cha Benoit, cha Laliberté, cha Nguyễn Hữu Phú.

II. Những giáo sở hình thành do chiến sự

Cũng vào những năm đó, tình hình chiến sự càng lúc càng căng thăng. Ðời sống dân chúng bất ổn. Một trận giao tranh làm trung tâm Bơtông đổ nát. Các cha quyết định rời bỏ các làng xa rút về trung tâm Phú Sơn. Lập tức người Dân Tộc, giáo cũng như lương, gồng gánh đòi đi theo. Từ mọi làng xóm, lượng người đổ về Phú Sơn có đến 3,4 ngàn. Các cha phải tức tốc liên hệ với một số dòng tộc ở địa phương đang làm chủ hàng ngàn mẫu đất và thương lượng mua hoặc xin đất tạm cư cho đoàn dân vất vưởng. Ðó là lý do hình thành của một số giáo sở mới, dọc theo quốc lộ 27:

  • Bên dưới Phú Sơn độ 4 cây số, tức là khoảng cây số 25 tính từ Liên Khương vào là làng Rơlơm với chừng 800 dân, gồm người từ nhiều làng khác nhau.
  • Ở cây số 24: Làng An Phước của người Phú Sơn di tản
  • Ở cây số 23: Làng Ðar-Kôh chừng 500 dân và làng Pơrteng, 400 dân.
  • Ở cây số 22: Trung tâm Ðà Nung, chừng 800 dân thuộc nhiều buôn làng.
  • Ở cây số 21: Trung tâm Ðampao, chừng 800 dân thuộc nhiều buôn làng.
  • Ở cây số 18: Trung tâm Sêrinhắc, 500 dân (nay là huyện lỵ Lâm Hà)
  • Ở cây số 17: Làng Kôya, làng Soan, 300 dân.
  • Bên ngoài Thanh Bình, ở cây số 13: Trung tâm Ðạ Me của người Tin Lành.
  • Ở cây số 12: Làng Goklam, 200 dân
  • Gần xứ An Hòa, chếch vào phía trong, làng Ganreo, chừng 300 dân.

    III. Lớp Tiên Phong và Lớp kế thừa

    Sự hiện diện tại đây của nhóm các cha Canada thuộc dòng Chúa Cứu Thế đánh dấu giai đoạn các cha này chuyển giao quyền hành trong DCCT cho các cha Việt Nam. Vào đầu thập niên 70, miền này thường xuyên có 6 cha Canada là: Labonté, Laliberté, Vaillancourt, Boissonnault, Benoit và Côté. Sau khi cha già Lapointé qua đời và được an táng tại cửa nhà thờ Rơlơm, Cha Drouin về Canada vì lý do sức khỏe. Thời gian này, phía Việt Nam chỉ có cha Vương Ðình Tài và thầy Lêona Quân phụ giúp tại các giáo sở.

    Là những thừa sai đầy tinh thần vô vị lợi, các cha đã đem công sức và tiền của giúp đoàn con ổn định dần cuộc sống. Sau khi thương lượng mua đổi đất đai, các cha đã thuê xe ủi đất, hạ cây, mở đường và chia lô cho các gia đình. Trước khi dân chúng phải chạy ra ven quốc lộ sống tạm cư trong các giáo sở như đã nói trên, bốn trung tâm lớn (Fyan, Liên Hùng, cách xa Phú Sơn độ 10 cây số, Bơ Tông, từ Rơlơm vào 3,4 cây số và Ðam rông) là các trung tâm đem ánh sáng văn minh, khai hóa, thay đổi đời sống thấp kém của người Dân Tộc một cách đáng kể. Suốt nhiều năm trường kể từ đầu thập niên 60, người dân tộc đã được cung cấp tôn ván làm nhà, cũng như phẩm vật, phân bón, thuốc men, quần áo. Ruộng nương của họ cũng được cày bừa miễn phí hoặc với giá hạ. Tiếc rằng, do lạc hậu về lối canh tác và thiếu tính toán về cách tiêu dùng, đa số cuối cùng nghèo vẫn hoàn nghèo sau hai ba chục năm được nâng đỡ.

    Bên cạnh việc chăm lo đời sống vật chất cho họ, các cha cũng tha thiết với việc truyền đạo và xây dựng nếp sống đạo cho họ, cũng như mở trường dạy học cho con em họ.

    Vào đầu thập niên 70, số tín hữu đã tăng nhiều. 5 cha Canada chia nhau sống tại các giáo sở: Rơlơm, Ðar-Kôh, Ðà Nung, Ðampao. Riêng cha Benoit lên mở mang tại miền Ðam rông giáp giới Buôn Mê Thuột. Mỗi nơi đó đếu có nhà thờ mái tôn vách gỗ, nhà xứ, nhà các nữ tu, trường học, xe hơi, máy cày. và sinh hoạt như mọi xứ đạo bình thường. Vào các ngày Chúa Nhật, cha ở Rơlơm phải lên làm thêm một lễ tại Phú Sơn - cha ở Ðampao phải làm 2 lễ tại Goklam, Ganreo - cha ở Ðà Nung thêm 2 lễ tại Soan, Sérinhắc. Phương tiện di chuyển thường là xe jeep hoặc Landrover. Cha Vương Ðình Tài có một thời gian làm việc tại Kôya và Soan, thầy Quân giúp tại Ðam Pao và Ðà Nung.

    Ðó là lớp tiên phong của miền truyền giáo Fyan. Ðến năm 1971, giáo phận Dalat lần đầu tiên gởi một đại chủng sinh (thầy Nguyễn Công Ðàm) vào giúp xứ tại Rơlơm trong một năm. Sang tháng 8-1972, áp dụng đường lối "học 5 tháng, thực tập tông đồ 6 tháng" do cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn đề ra, Học viện DCCT Thủ Ðức phái 3 thầy tình nguyện lên (Ðó là các thầy Duy, Lợi, Phiệt). Trong 2 năm kế, cũng tiếp tục có 3 thầy, trong số đó hai thầy Lợi và Phiệt không thay đổi. Ðây là lớp kế thừa mà trong sự quan phòng của Ngài, Chúa chuẩn bị trước cho miền truyền giáo rộng lớn.

    IV. Thăng trầm và triển vọng

    Năm 1975 đã đến với nhiều đổi thay. Tháng 3 năm đó, cha Benoit rời bỏ Ðam Rông. Lâu trước đó, Cha Tài và Thầy Quân đi Pleiku, cha Boissonnault về Canada vì lý do sức khỏe (1973) cha Laliberté đi nghỉ phép thường kỳ (1974)

  • Ngày 21-06-1975: Hai thầy Nguyễn Hưng Lợi và Trần Thế Phiệt được thụ phong linh mục tại nhà thờ DCCT Sài Gòn.
  • Ngày 21-07: theo sự phân bổ của DCCT, giấy bổ nhiệm của Ðức Giám Mục Giáo Phận cũng như của chính quyền lúc đó, Cha Lợi vào phụ trách giáo sở Rơlơm và Phú Sơn, Cha Phiệt phụ trách Ðam Pao và Ðà Nung.
  • Từ năm 1976-1977, nhiều gia đình dân tộc bỏ các giáo sở về lại buôn làng gốc của họ. Do sống rải rác ở những buôn làng heo hút, đa số họ không còn lui tới nhà thờ được. Ðời sống đạo bị giảm thiểu vào một đức tin sơ đẳng, tuy không đến nỗi mai một hoàn toàn. Cuộc sống vật chất - vẫn do điều kiện và não trạng làm ăn - tiếp tục đói khổ lạc hậu. Họ vẫn là thành phần nghèo khó tất bật, đối tượng hàng đầu của công cuộc truyền giáo của Hội Thánh.