VIỆC TRUYỀN GIÁO CHO NGƯỜI DÂN TỘC VÙNG BẢO LỘC

Miền Bảo Lộc nói đây xin xác định là miền đất bao gồm huyện Bảo Lộc và huyện Ðạ Huoai hiện nay.

Người Dân Tộc, trong thời Tin Mừng bắt đầu được rao giảng cho họ, có chừng 10,000 người, sống trong ngót 100 buôn làng rải rác khắp trong rừng. Sau này họ được tập trung lại thành những buôn lớn chia thành 4 xã: Tân Rai, Tân Lú, Tân Ðồn và Mađagui. Về phương diện tôn giáo, người Thượng Bảo Lộc được đức tin công giáo muộn màng nhất, sau Di Linh rất nhiều năm. Mãi đến năm 1956, nhân những cuộc tiếp xúc giao tế với giáo dân người kinh mới di cư tới, họ dần dà biết tới đạo công giáo. Và chính lúc đó là lúc cần có một linh mục chuyên phục vụ họ.

1. Lớp thừa sai tiên phong
Ngày 14-06-1958, cha Laurensô Phạm Giáo Hóa được Ðức Giám Mục Sài Gòn (Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền) phái tới xứ Bảo Lộc, vừa giúp cha xứ Phaolô Nguyễn Văn Ðậu trọng việc chăm sóc tân tòng, vừa học tiếng Thượng. Sau một năm học tiếng, cha bắt đầu đảm nhận nhiệm vụ truyền giáo cho người dân tộc. Trong nhiều năm, cha đã là vị thừa sai duy nhất rong ruổi khắp vùng truyền giáo mênh mông này.

Ðến năm 1964, cha được cha Phêrô Trần Văn Khoa từ địa phận Long Xuyên lên trợ lực. Cha Khoa phụ trách hết vùng dưới đèo Bảo Lộc trong gần một năm rồi lên trung tâm Kala và cây số 16 Di Linh.

Ðầu năm 1972, thêm cha Giuse Phạm Minh Sơn, giữa năm đó thêm cha Giuse Mai Văn Thược (nhưng từ năm 1973, cha Sơn lên Di Linh, Cha Thược đi Sài Gòn). Giữa năm 1973, có cha Phaolô Lê Ðức Huân đến yểm trợ. Cha phụ trách các em ký túc xá Thượng tại trung tâm và phụ trách vùng Tân Rai, từ Minh Rồng trở vào.

2. Các cộng sự viên
Công cuộc truyền giáo của các cha cũng được một số người nhiệt tình cộng tác.

Trước tiên, đó là các chủng sinh của giáo phận được Ðức Cha sai tới từ năm 1968 trong thời kỳ họ đi thực tập, mỗi đợt một thầy và trong thời hạn một năm.

Ðặc biệt, ngay từ buổi đầu, có những anh chị em thiện chí, dấn thân trong một thời gian nào đó, có trợ cấp hay không, tùy ý họ.

Hạng thứ ba, dấn thân vĩnh viễn, là các chị em Chứng Nhân Chúa Kitô. Ngoài ra, còn có một số giáo dân, đa số người kinh, có thiện chí, năng lui tới các buôn làng thăm viếng hoặc dạy đạo.

3. Ðường lối truyền giáo Các cha ý thức rằng công việc rao giảng Tin Mừng đòi người thừa sai không được ở lì một chỗ chờ người ta tìm đến, mà phải ra đi theo lệnh Chúa, phải luôn luôn lưu động để dễ dàng tiếp xúc gặp gỡ, để nhờ sự gần gũi bên ngoài, có thể gây tạo sự gần gũi tâm hồn hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho tác động của Chúa. Các cha cũng ý thức việc chính yếu mình phải làm là dạy đạo, là rao giảng Tin Mừng trực tiếp hơn là quan tâm đến những công tác thuần kinh tế, văn hóa và xã hội.

Do đó các cha thường đi từ buôn này sang buôn khác, có khi một mình, có khi thêm một vài anh chị em dấn thân cùng đi, có chuyến lưu lại một nơi nào đó dăm bảy ngày hay hai ba ngày tuần lễ.

Tới đâu, công tác được thực hiện cũng thường là thăm viếng các gia đình, phát thuốc cho người đau yếu, hớt tóc cho người lớn và trẻ em, thỉnh thoảng giúp họ trong công việc làm ăn hoặc dạy chữ, dạy nghề ở nơi nào có điều kiện và nhu cầu. Ðể dìu dắt các dự tòng và tân tòng về đức tin, các cha cổ võ việc người kinh đỡ đầu cho người dân tộc: người này đỡ đầu cho người kia, gia đình này cho gia đình kia, xứ này cho buôn làng nọ.

Vì nhu cầu, dần dần các cha đã thiết lập tại một số buôn làng những cơ sở tạm: một nhà nguyện bé nhỏ (rộng nhất là 8x16m), một nơi để linh mục và anh chị em dấn thân tá túc, dâng lễ, cầu nguyện, dạy đạo, phát thuốc và đi đến làng kế cận. Có nơi còn có thêm trường sở.

4. Các cơ sở
Sau một thời gian hoạt động, các cha đã xây dựng được một số trung tâm hoặc nhà nguyện:

  • Một căn nhà ở khu vực Bảo Lộc, hiện để giáo xứ Bảo Lộc sử dụng.
  • Một trung tâm Thượng Bảo Lộc (1968) gồm nhà thờ, nhà xứ, nhà ở cho các chị chứng nhân Chúa Kitô, nhà ký túc cho học sinh Thượng. Trung tâm này là khu vực nhà thờ Thiện Lộc (cho đến năm 1991)
  • Ba cơ sở tương đối lớn: Tại Tân Rai (1959), tại Tân Lú (1960), tại Mađagui (1964)
  • Một số nhà nguyện: tại Kôhinhđa, Ðại Bình, Minh Rồng, B'đơ, Ðại Quay.
    5. Thành quả

    Nhờ sự dấn thân của các cha, nhất là cha Laurensô Hóa, và của nhiều giáo dân thiện chí, Nước Chúa đã đến và dần dần được mở rộng giữa anh em dân tộc:
  • Ngày 18-02-1961 cả gia đình ông Pubry Ben gồm 5 người được lãnh Thánh Tẩy tại nhà thờ Bảo Lộc do Ðức Cha Simon Hòa.
  • Hàng năm đều có thêm người gia nhập đạo. Tính đến hết tháng 03 năm 1975, đã có 1032 người.
  • Nếu tính thêm những người đã được thanh tẩy khi kết hôn, khi nguy tử. và các em nhỏ thuộc các gia đình mà cha mẹ đã theo đạo hoặc đang là dự tòng, con số đó có thể lên đến ngót 2000.

    Dĩ nhiên trong số này cũng có những người đã chết, đã bỏ đạo hoặc không còn điều kiện tiếp xúc cới các cha, tham dự Thánh Lễ, lãnh nhận các bí tích. Nhưng con số đó và đức tin đơn thành hiện còn nơi nhiều tín hữu đã và vẫn là niềm an ủi sâu xa cho mọi thừa sai đã dấn thân vì cánh đồng truyền giáo tại Bảo Lộc.