Nhiều Giáo Xứ Hành Hương Năm Thánh tại Kala

Chúa nhật 26.8 tại nhà thờ Kala, giáo hạt Di Linh trở nên nhộn nhịp hơn thường ngày vì có nhiều giáo xứ đến Hành hương năm thánh- 2018.

Trong buổi sáng có các đoàn hành hương của giáo xứ Thánh Mẫu- Đà Lạt, Bạch Đằng- Đà Lạt, La Vang- Bảo Lộc và một số đoàn khác đã đến nhà thờ Kala để hành hương Năm thánh Tôn Vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Ngày 19.6.2018 giáo phận Đà Lạt khai mạc Năm Thánh Tôn vinh Các thánh Tử đạo Việt Nam, Đức Giám mục giáo phận- An tôn Vũ Huy Chương công bố chọn Nhà thờ Kala là Trung tâm truyền giáo cho người dân tộc bản địa trước đây làm nơi hành hương cho toàn giáo phận, trong Năm Thánh- nhân kỷ niệm 30 năm Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong thánh cho 117 vị Thánh Tử đạo Việt Nam.

 Sau hơn 90 năm Đức cha Cassaigne gieo mầm đức tin cho đồng bào Dân tộc tại Kala, đến hôm nay nhà thờ Kala vẫn là ngôi nhà thờ gỗ đơn sơ; để có đủ chỗ cho giáo dân tham dự thánh lễ, Cha quản xứ trước đây- Cha Trọng đã phải cơi nới nhà thờ ra hai bên. Nhân Năm Thánh Tôn vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và hướng đến kỷ niệm 100 năm (1927- 2027) người Dân tộc đầu tiên- bà Ka Trút được Cha Cassaigne rửa tội tại Di Linh, Giáo phận xúc tiến việc xây dựng mới nhà thờ Kala và biến nơi đây thành Trung tâm Truyền giáo của Giáo phận.

Theo lời mời gọi của Đức Giám mục Giáo phận, nhân chuyến Hành hương “về nguồn”, các giáo xứ trong giáo phận đều kêu gọi các gia đình hy sinh, đóng góp phần mình để xây dựng Nhà Chúa, thúc đầy công cuộc truyền giáo của giáo phận.

Lúc 10g15 Cha Đaminh Nguyễn Chu Truyền- Quản xứ Thánh Mẫu- Đà Lạt chủ sự thánh lễ, cùng đồng tế có Cha xứ Bạch Đằng- Micae Nguyễn Hữu Trung, Cha phó La Vang -  Giuse Nguyễn Hữu Trí hiệp dâng thánh lễ mừng kính Các thánh Tử đạo Việt Nam. Cha phó La Vang giảng lễ đã chia sẻ những tâm tình giúp cộng đoàn biết sống chứng nhân Tin Mừng như cha ông đã nêu gương.

Tại Kala, các đoàn được tham quan nhà thờ, nhà xứ hiện tại đang xuống cấp, cùng bản vẽ hình ảnh của ngôi nhà thờ mới; khu đất đang san mặt bằng để chuẩn bị khởi công nhà thờ mới, dự kiến vào ngày 24.11.2018- ngày kết thúc Năm Thánh.

Sau thánh lễ, các đoàn hành hương tiếp tục đến thăm phần mộ của Đức cha Cassaigne tại Khu điều trị phòng Di Linh và viếng nhà nguyện của trại phong (Cách nhà thờ Kala hơn 1km). Đức Cha Cassaigne là người đã sáng lập nên trại phong để chăm sóc nuôi dưỡng những người phong cùi bị bỏ rơi giữa núi rừng hoang vu lạnh lẽo.

Bài, ảnh: Hữu Phước

 

Để bạn đọc có thể hiểu rõ hơn địa điểm hành hương Năm thánh -2018 và vị thừa sai truyền giáo cho người dân tộc bản địa Cơ-ho tại cao nguyên Di Linh xin gởi đến một số  thông tin về Đức cha Jean Cassaigne và vùng đất Kala.

 

Đức cha Jean Cassaigne -Cha của những người phong Cùi

·         Đức cha Jean Cassaigne sinh ngày 30.01.1895 tại Toi Urgons-Grenade nước Pháp; thụ phong Linh mục ngày 19.12.1925 thuộc Hội thừa sai Paris; ngày 06.04.1926 Ngài xung phong lên đường sang Đông Dương truyền giáo, sau một tháng lênh đênh trên biển cả Ngài mới cặp bến cảng Sài Gòn, sau đó về Cái Mơn với cha Delignon để học tiếng Việt. Chỉ 5 tháng sau khi đến Việt Nam Ngài được bổ nhiệm làm cha xứ Di Linh, một vùng đất còn hoang sơ của Cao nguyên Trung phần, nơi mà dân cư  toàn là người dân tộc thiểu số, cuộc sống thiếu thốn khó khăn mọi bề.

·         Giáo xứ của cha Cassaigne đầu tiên chỉ có 5 giáo dân gồm 3 người Việt , một “anh nuôi” và chú giúp việc. Đến với miền đất mới cha Cassaigne tiếp cận ngay với người dân tộc bản địa; nhưng để có thể trò chuyện thân mật với họ Ngài tức tốc học tiếng, lúc ấy tiếng dân tộc ở miền này chỉ mới là ngôn ngữ để nói chứ chưa có chữ viết. Ngài phải thường xuyên tiếp xúc, lần mò từ từ, và sáng tạo ra cách phiên âm, chẳng lâu sau đó Ngài đã hiểu, nói thông thạo tiếng bản địa, Ngài còn dịch được một số kinh, bài hát ra tiếng dân tộc. Độc đáo hơn, ngày 28.12.1929 lần đầu tiên một cuốn tự điển tiếng K’Ho do Ngài biên soạn được xuất bản trước sự thán phục của nhiều người.

·         Chuyện kể rằng, năm 1927, khi được bổ nhiệm làm quả xứ Di Linh Dù bận bịu trăm công nghìn việc nhưng Cha Cassaigne vẫn dành nhiều thời gian để tìm đến với những người phong cùi bị gia đình, dòng họ ruồng rẫy, xua đuổi vào chốn rừng sâu mặc cho bệnh tật, đói lạnh, có khi họ còn làm mồi cho thú rừng. Sau những lần băng rừng lội suối đem lương thực, thuốc men đến cho họ, Ngài càng cảm thương trước những số phận hẩm hỉu ấy. Một lần cuối mùa thu năm 1928, khi đang một mình băng qua đường rừng vắng đến thăm một buôn làng ở xa, thì một đoàn 10 người phong cùi rách rưới, dơ bẩn nằm la liệt trên đường kêu gào thảm thiết, họ sụp lạy dưới chân Ngài và xin Ngài cứu giúp họ. Ngài không cầm được nước mắt, hình ảnh những người xấu số cứ ám ảnh tâm trí, nhiều đêm trằn trọc không ngủ được vì Ngài luôn nghĩ đến những thân phận bị ruồng bỏ, bị loại trừ. Tình yêu thương đã thôi thúc Ngài  lập làng cùi, những chòi nhà sàn đơn sơ được dựng lên ở khu đất trống dưới chân đồi gần mé ruộng cách nhà xứ KaLa gần 1km. Có nhà rồi ,Ngài lại băng rừng , kiếm tìm và  đưa họ về chung sống, để  chăm sóc và chữa trị bệnh tật trước sự “ghê tởm” của không ít người.

·         Thật may mắn ngày 11.04.1929  làng cùi chính thức được công nhận và được trợ cấp của chính quyền, lúc ấy đã qui tụ được 21  người, họ yên tâm vui sống bên cạnh người cha hiền, không còn sợ sự nghi kỵ, xa lánh của người thân, họ hàng…Một thánh lễ đầu tiên được cử hành trong một nhà nguyện nhỏ ngay tại làng cùi ngày 15.03.1936 thật đầm ấm và dạt dào yêu thương. để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong những người phong cùi.

·         Ngày lễ kính thánh Gioan Baotixita 24.06.1941 một sự kiện trọng đại đã đến với vị Cha hiền của người dân tộc và những người phong cùi, khi Ngài được tấn phong Giám mục và là Giám quản Tông tòa Giáo phận sài Gòn . Nhưng sau 14 năm, khi bước vào tuổi 60 (cuối  năm 1955) Ngài xin từ chức để nghỉ hưu và tình nguyện về lại Di Linh để  phục vụ làng cùi. Thực tế, suốt  14 năm làm Giám quản một Giáo phận lớn nhưng dường như tâm trí và trái tim của Ngài phần lớn vẫn dành cho những bệnh nhân phong, những người bị ruồng bỏ nơi chốn rừng sâu hoang vắng trên  cao nguyên Di Linh. Không thể diễn tả hết niềm vui của những người con cái sống tại làng cùi khi biết người cha hiền trở về để chung sống với họ trong tuổi gìa. Những tháng ngày “hưu dưỡng” do tuổi cao và bệnh tật nên sức khoẻ của Ngài càng yếu dần, nhưng ngược lại tình yêu thương bao la của vị mục tử nhân lành lại càng triển nở, Ngài chính là chỗ dựa vững chắc cho những mảnh đời  bất hạnh,xấu số, bị bỏ rơi…Ngài còn là mẫu gương tuyệt vời của đời sống chứng nhân, chính cách sống giản dị, tận tuỵ hy sinh, quan tâm và yêu thương hết thảy mọi người đã và đang dẫn lối cho biết bao người nhận ra ánh sáng của Tin Mừng. Ngài ra đi ở tuổi 78, vào ngày 31.10.1973 để lại bao niềm thương tiếc. Ngày lễ an táng của Ngài tất cả bệnh nhân phong, bà con giáo dân, và đông đảo người lương quanh vùng đều để tang, khóc lóc thảm thiết đưa tiễn người Cha nhân lành đến nơi an nghỉ cuối cùng. Theo nguyện vọng lúc còn sống, Ngài được an táng cạnh nhà thờ, gần tháp chuông, để luôn luôn hiện diện giữa đoàn con đáng thương của mình. Tuy Ngài ra đi đã gần 45 năm, nhưng hình ảnh của Ngài chưa một lần phai nhòa trong tâm trí những người phong cùi và bà con giáo dân, ngày ngày họ đi lễ không quên ghé lại phần mộ của Ngài để đọc kinh, dâng nén nhang, cắm lên một nhành hoa rừng để tỏ lòng kính yêu và biết ơn vô vàn.

·         Hôm nay có dịp đến với Khu điều trị bệnh nhân phong Di Linh mọi người có thể gặp lại hình ảnh của vị mục tử nhân lành ngay trong phòng lưu niệm cạnh nhà thờ. Những gì Đức Giám mục Cassaigne làm cho Giáo phận Đà Lạt nói riêng, cho Giáo hội nói chung đến nay vẫn còn nguyên vẹn gía trị và đang được các nữ tu dòng Nữ tử bác ái Vinh  Sơn và nhiều người khác tiếp nối.

 

GIÁO XỨ KALA THEO DÒNG THỜI GIAN

Kala là một giáo xứ gồm toàn người Dân Tộc và bao gồm nhiều buôn làng Dân Tộc mang tên khác nhau. Sở dĩ giáo xứ mang tên Kala vì nhà thờ và nhà xứ tọa lạc tại buôn Kala. Giáo xứ này là một trong những giáo xứ kỳ cựu của giáo phận và có một lịch sử lâu đời.

Công đầu lập nền móng cho giáo xứ thuộc về Ðức Cố Giám Mục Jean Cassaigne lúc ấy đang là cha xứ Di Linh và đã rửa tội cho nhiều người Dân Tộc miền DiLinh. Sự kiện đầu tiên đáng ghi nhớ xảy ra vào ngày 30-1-1939, khi cha đến thăm các làng miền Kala theo lời xin của các đại diện làng và cất một nhà tranh nhỏ, bắt đầu công việc dạy giáo lý cho dân chúng.

Thời gian này có cha Chauvel phụ giúp cha. Kala bắt đầu trở thành một trung tâm truyền giáo từ đó, và có nhiều thay đổi tốt đẹp đến nay vẫn tồn tại.

Ngày 4-3-1940, cha Cassaigne khởi công mở đường xe vào Kala, đường này hiện vẫn còn, trước đó, mỗi khi đi lại, dân chỉ có các đường mòn băng đồi, băng ruộng.

Ngày 25-4-1940, cha mua đất lập khu nhà thờ, nhà xứ, trường học như hiện có. Cha Chauvel đi lại làm nhà xứ và cất một nhà nguyện nhỏ trên đất mới mua để làm lễ và dạy giáo lý.

Ngày 1-12-1941, cha Chauvel chính thức làm cha xứ đầu tiên tại Kala và khởi công làm nhà thờ gỗ hiện còn. Cha cũng xây cất một trường sơ cấp của xứ, cạnh nhà thờ, bắt đầu khai giảng niên khóa 1942-1943.

Năm 1947, Cha Jacques Dournes tới Kala và vào ngày thứ bảy Tuần Thánh năm sau (27-3-1948) cha đã rửa tội và ghi sổ rửa tội số 1 trong sổ họ Kala, trước đó chỉ ghi tại sổ bộ giáo xứ Di Linh.

Ðến ngày 28-4-1951, cha Fr. Rubat vào Kala với cha Dournes. Tháng 9-1952, cha Grelier được cử đến làm cha xứ. Cha Rubat phụ, còn cha Dournes lo riêng về văn hóa. Thời gian này các chị Tiểu Muội đến thăm, chọn địa điểm và năm 1953, các chị chính thức tới làm nhà và sống giữa anh em thượng làng Krot, cách nhà xứ gần 2 cây số về phía trong.

Năm 1954, sau khi cha Dournes về Pháp nghỉ bệnh và cha Grelier nhận nhiệm vụ mới, thì cha Rubat làm cha xứ. Cha Daricau tới phụ, làm thêm nhà ở và sau đó (1956) các nữ tu Vinh Sơn cũng tới ở, giúp việc giáo dục tại chỗ và coi sóc bệnh nhân làng cùi.

Năm 1961, cha Daricau về Dalat, cha Desplanque tới Kala phụ với cha Rubat. Năm 1963, cha Desplanque về Sàigòn. Tháng 6 năm 1965 cha Rubat về Dalat.

Sau thời kỳ này, xứ Kala bắt đầu được các cha Việt Nam đến coi sóc. Ngày 18-7-1965 Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền cử Cha Phêrô Trần Văn Khoa về coi sóc KaLa, ngài  tiếp nhận những giáo dân tình nguyện, huấn luyện họ nên những tông đồ đi vào cánh đồng truyền giáo. Ðến ngày 7-7-1969, cha Ðaminh Nguyễn Huy Trọng tới phụ tá cha Khoa. Trong thời gian này, cha Khoa thường xuyên lui tới cây số 16.

Ngày 5-10-1970, Cha Đaminh Nguyễn Huy Trọng thay thế Cha Khoa. Từ cuối năm 1970, vì sức khỏe yếu kém, Ðức Cha Cassaigne đã nhờ cha xứ Kala thường xuyên lên làm các nghi lễ tôn giáo tại làng cùi.

Ngày 20-5-2013 và Cha Vinhsơn Đỗ Quang Dung được bổ nhiệm làm quản xứ Kala thay Cha Trọng nghỉ hưu.

Ngày 10-9-2015, Cha Phanxicô Xavie K’Brel, nguyên Phó xứ Tam Bố, Quản nhiệm Giáo điểm Ninh Thiện (Đăngsrôn, thuộc Giáo xứ Tùng Nghĩa, Giáo hạt Đức Trọng), được Đức Cha Antôn bổ nhiệm làm tân Quản xứ KaLa, thay thế Cha Vinhsơn Đỗ Quang Dung đi nhận Giáo xứ Diom (Giáo hạt Đơn Dương).

Cuối năm 2017, Cha Phaolô Lê Đức Huân- Đại diện Giám mục đặc trách người dân tộc thiểu số được Đức cha Antôn bổ nhiệm làm tân Quản xứ Kala để xúc tiến việc xây dựng Kala  thành Trung tâm truyền giáo của giáo phận, hướng đến kỷ niệm 100 năm (1927- 2027) người Dân tộc đầu tiên ở vùng đất này được Cha Cassaigne rửa tội.

Thông Xanh (tổng hợp)

 

 

Previous
Next










Mục Vụ Tháng 8, 2018