Bài Giảng Của Cha Phaolô Vũ Đức Vượng, Trong Lễ An Táng Cha Augustinô Phạm Minh Thanh.

Trong bầu khí sâu lắng và bình an của thánh lễ an táng, chúng ta cúi đầu đón nhận và tuân phục thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, trước sự ra đi của người anh em linh mục thân yêu. Với niềm tin sắt đá vào sự phục  sinh ngày sau, thân nhân và bằng hữu xa gần của cha Augustinô, xin dâng lên Thiên Chúa  cái chết của cha như một hiến lễ tình yêu, để cảm tạ và ngợi khen hồng  ân Linh mục mà Người đã ban xuống cho cha khi còn sống.

Xin cám ơn cha vì tất cả những  gì cha đã phục vụ giáo dân, cũng như cho các cộng đoàn anh em Dân Tộc, mà cha đã được giao phó trong suốt 43 năm linh mục. Xin Thiên Chúa là Cha nhân lành giàu lòng thương xót tha thứ mọi lỗi lầm thiếu sót để cha được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Với lòng thương yêu vô hạn, đại diện các giáo xứ mà cha Augustinô đã phục vụ , các dòng tu nam nữ và cộng đoàn…. tham dự thánh lễ này để cầu nguyện cho Ngài.

Chúng ta bùi ngùi xúc động nhưng lại được an ủi trước lời hiến tế của Chúa Giêsu trong bài Tin mừng: “Lạy Cha, Con muốn rằng Con ở đâu thì những người Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Con, vinh quang mà Cha đã ban cho Con.” (Ga.17,24).  Những người Cha đã ban cho Con, trong đó có cha Augustinô Phạm Minh Thanh, người con mà Chúa Cha đã ban cho Chúa Con để trở thành Tư  tế của Ngài, thì hôm nay chúng ta cũng tin rằng: “Con ở đâu thì chúng cũng ở đó với Con”.

Linh mục nào cũng như mọi người đều phải chết, không chết trong năm này thì cũng chết trong năm khác. Nhưng Linh mục là người chết theo thánh ý Chúa, như gương của Chúa Giêsu chết trên thánh giá: “Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn Con trong tay Cha” (Lc.23,46). Linh mục là người chết trong an bình, như lời ông cụ Simêon thốt ra: “Giờ đây, lạy Chúa xin để cho tôi tớ Chúa được ra đi bình an, như lời Chúa đã hứa.” (Lc.2,29). Linh mục là người chết trong sự yêu thương tha thứ như gương của thánh Stêphanô cầu nguyện trước  khi bị quân lính ném đá: “Lạy Chúa xin đừng chấp tội họ”( Cv.7,60). Linh mục  là người chết trong sự kiên cường như lời thổ lộ tâm huyết của thánh Phaolô: “giờ chết của tôi đã gần kề, tôi đã chiến đấu anh dũng, tôi đã chạy đến cùng đường và tôi đã giữ vững được đức tin” (2Tim.4,6-7). Linh mục là người chết hạnh phúc: khi sống Linh mục không có gì, nhưng khi chết Linh mục lại có tất cả, bởi vì Linh mục luôn có kho tàng quý giá nhất trên trần gian này để trao ban cho kẻ khác và cũng trao ban cho chính mình được hưởng, đó là chính Chúa.  Vì vậy chúng ta có thể dùng lời ca của thánh Phanxicô Assidi:  “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.” Chúng ta mượn lời ca này để tiễn biệt cha Augustinô Phạm Minh Thanh, một người cha, một người anh đáng kính trong hàng Linh mục cũng như trong gia đình. Nhưng không chỉ là tiễn biệt mà còn là bày tỏ lòng thành kính nằm sâu trong cõi lòng chúng ta, những người còn ở lại.

Vũ trụ này cao niên lắm, hàng triệu triệu năm rồi. Kiếp người dẫu có là đã 71 tuổi - gọi là cao niên, thì cũng chẳng đáng kể là bao. Triệu triệu năm qua rồi, vũ trụ đã chứng kiến bao nhiêu sinh linh  nằm xuống. Không ai có thể làm nổi con số thống kê xem có bao nhiêu người đã chết trên thế gian này. Bởi đó, thêm một người nữa mất đi cũng là chuyện bình thường. Đời đã có sinh, ắt có tử! Dẫu có là mấy chục năm trong cuộc đời, thì cũng là một phần bé nhỏ của nhân loại và của vũ trụ này. Nhưng dường như cha Augustinô mãi mãi vẫn là cây cao bóng cả cho anh em chúng ta ngã vào mà noi gương bước tới. Có ai bước vào đời nhập cuộc và đồng hành cùng với đời mà không có lý tưởng hay là ước mơ. Đối với cha Augustinô, sự ra đi của Ngài ngày hôm nay, dường như vẫn còn để lại một âm vang sâu lắng trong tâm hồn mỗi người. 71 tuổi đời, 43 tuổi linh mục, ngay từ thời làm thày đi giúp xứ thì cha đã chọn đi phục vụ cho đồng bào Dân Tộc. Khi đã làm Linh mục cha cũng đã có rất nhiều năm lăn lộn trong vùng Dân Tộc: 16 năm ở Langbian, 8 năm ở Tân Văn, 2 năm ở Phú Hiệp và 4 năm cuối đời ở Giáo xứ B’Đơr. Với dáng người gầy gò đen đủi thì nhiều người vẫn nghĩ cha là người Dân Tộc nói tiếng Kinh rất là giỏi. Cuộc sống thì đơn sơ đạm bạc, đồ đạc cá nhân chẳng có gì nhiều, có chăng là một sộ sưu tập cổ vật của đồng bào Thượng.  Sống lâu với người Dân Tộc, có thể nói Ngài đã bị “Thượng-hóa”. Cuộc đời của Ngài cũng ba chìm bảy nổi, gặp nhiều gian nan thử thách, Ngài được thụ phong Linh mục do Đức cha Cố Bartôlômêô vào sáng ngày 25/01/1977, trong bối cảnh Giáo phận Dalạt lúc bấy giờ có thể nói là phó thác hoàn toàn tương lai cho sự quan phòng của Chúa. Do đó, ngày chịu chức của Ngài diễn ra trong âm thầm lặng lẽ, thân nhân bạn bè không ai hay biết, và rồi cũng âm thầm sống chức linh mục cách lặng lẽ nhiều năm sau đó. Rồi về cuối đời chịu đựng căn bệnh bất trị hành hạ. Nhưng Ngài luôn tỏ ra là một người Linh mục hiền hòa khả ái, luôn lạc quan, không phàn nàn oán trách. Ngài đã học được tấm gương của Mẹ Maria luôn thưa “Xin Vâng”, xin vâng trong mọi hoàn cảnh, mọi bất trắc.

Hôm nay Ngài đã ra đi, vĩnh biệt cuộc đời, giã biệt mọi gian truân và mọi người chúng ta. Tưởng nhớ người đã ra đi, chúng ta thấy ánh sáng cuộc đời của cha dọi sáng chứa chan vào lý tưởng cuộc đời chúng ta. Để trở thành Linh mục, cha đã một lần quyết tâm, nhưng để sống quyết tâm đó, không phải chỉ một lần chiến đấu, mà là cả cuộc đời chiến đấu. Chiến đấu cùng các cám dỗ ngoại tại đã vậy, cuộc chiến với cái tôi đầy yếu đuối vấp váp còn khó khăn gập bội phần. Bởi chỉ có cái tôi mạnh mẽ mới có thể dương cao ngọn cờ chiến thắng, dẫu cho trăm ngàn lần cám dỗ. Lý tưởng Linh mục cao đẹp lắm, nhưng ai khoác nó lên mình, dẫu cho được người đời gọi bằng tiếng cha thì không phải  tự dưng mà đẹp. Cái nét đẹp của tâm hồn không bao giờ xuất phát từ sự tôn vinh trên môi miệng của người đời. Nét đẹp đó chỉ trở thành nét đẹp kiêu sa cho những ai đã suốt cả cuộc đời chiến đấu cho tròn chữ hiến dâng.

Hôm nay cha đã lên đường về quê, hoàn tất một đời hiến dâng, cũng có nghĩa là gói trọn một đời chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, mang đến trình diện cùng Thiên Chúa, Đấng mà ơn gọi của cha đã xuất phát từ đó. Thiên Chúa đã sai cha ra đi, nay nhận lại cuộc đời của cha trong vòng tay nhân ái yêu thương, chắc sẽ trọng thưởng cha ngàn năm vĩnh phúc. Khi tiễn biệt cha trong lời cầu nguyện, chúng ta thấy thấm thía vô cùng lời Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô Assidi: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.” Cha đã trọn một đời hiến dâng, kính chúc cha trở về quê nhà bình an. Xin cầu cho anh em chúng  tôi còn ở lại,  và cho những người mà cha đã từng có thời gian phục vụ.


MainMV1020