Bài Giảng Của Đức Hồng Y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn Trong Thánh Lễ Tạ Ơn Kim Khánh Linh Mục Cha Giuse Phạm Minh Sơn  - Tam Bố , Di Linh – 28/11/2020.

 

Những ai đã có cơ hội tham dự lễ cung hiến nhà thờ Tam Bố này (25/8/2008), thì ngoài những lễ nghi rất long trọng, sốt sáng; ngoài những tổ chức rất hấp dẫn, rất vui… thì cũng không quên một câu nói được lặp đi lặp lại nhiều lần ở cuối thánh lễ. Câu nói đó của chính cha xứ, đứng trước những hồng ân vô cùng lớn lao Chúa đã ban cho giáo xứ và cho bản thân của cha. Từ một khởi điểm xây dựng nhà thờ không có gì hết mà đã hoàn thành được ngôi nhà thờ này, thì Ngài tin rằng: Chúa thương kẻ “Khù Khờ”. Hai chữ khù khờ được nhắc lại nhiều lần. Vì tôi đã được tham dự với Ngài từ khi mới manh nha thiết lập Tam Bố, tôi cũng xác nhận rằng Ngài “khù khờ”. Trong cái khù khờ đó, Chúa đã dẫn dắt Ngài được 50 năm linh mục. Hôm từ Hà Nội, tôi gọi điện mừng lễ Ngài, Ngài xác định Ngài không có gì hết, chỉ vì Ngài “khù khờ”.

Đó là một sự khù khờ cố ý, có nền tảng. Chúng ta nghe trong bài đọc 1 trích sách Tiên tri Giêrêmia (Gr.1,1.4-5.17-19): mỗi người trong chúng ta đã được Chúa tuyển chọn từ thuở đời đời, ngay từ khi còn trong dạ mẹ. Thiên Chúa biết hết và có sự quan phòng, nên mỗi người đều được Ngài tuyển chọn. Lúc đầu Thánh lễ, Đức cha giáo phận có nhắc đến lá thư của cha xứ khi còn làm thầy: thầy đã viết thư xin Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền để được đi phục vụ anh em Dân Tộc. Tôi có thể coi đó là tiếng gọi của Chúa đã gọi cha “từ khi còn trong bụng mẹ” và từ đó, từng bước, Chúa đã hướng dẫn cho Ngài, nếu thật lòng đáp trả thì Chúa ban cho đủ ơn để đi con đường mà Chúa đã gọi. Tuy nhiên con đường đó, như thư của Thánh Phaolô trong bài đọc 2 (2Cor.4,7-15): con đường đó không dễ dàng tí nào, vì mình mang ơn của Chúa trong một thân xác yếu hèn, như một vật quý đựng trong bình bằng sành. Bình bằng sành thì luôn luôn dễ vỡ. Nhưng trong sự quan phòng của Chúa,  nó lại trở nên vững chắc. Sự quan phòng đó chúng ta không thấy được, nhưng tình yêu của Chúa, không gì trên trần gian này có thể ngăn cản được, dù ngay cả cái chết hay quỷ vương ra đời, không một thế lực nào ngăn được tình yêu của Chúa đối với chúng ta. Vì tình yêu đó, như bài phúc âm theo Thánh Gioan (Ga.10,11-18), đã nói rõ tình yêu của người mục tử - chúng ta thường dịch là người mục tử tốt lành - nhưng chính xác hơn là người mục tử “đích thực”, đích thực là người mục tử. Còn những người “mang danh” là mục tử thì không có sự yêu thương và chăm sóc.

Sự yêu thương và chăm sóc của Chúa đối với chúng ta có những nét rất rõ ràng: đó là một tình yêu tự nguyện: Chúa Giêsu cho thấy ngài tự ý chọn con đường tử nạn, tự ý đáp lại tiếng gọi của Chúa Cha, một tình yêu tự nguyện không do ép buộc, đó mới là tình yêu đích thực. Tình yêu đó thể hiện ở mức độ cao nhất : đó là cái chết. “Không có tình yêu nào dám hy sinh mạng sống mình cho người mình yêu” (Ga.15,13), Chúa Giêsu đã thể hiện điều đó. Ở đời cũng có những tình yêu hy sinh cho người mình yêu, nhưng không phải thứ tình yêu tự nguyện, mà là thứ tình yêu “cực chẳng đã”, lầm lạc… mà dù tình yêu gì đi nữa, mình yêu rồi người mình yêu cũng chết thôi. Còn tình yêu của Chúa để cho chúng ta được sống. Cái chết của Ngài mang lại sự sống cho chúng ta, nên tình yêu của Chúa luôn luôn là một tình yêu hiệu quả. Chính tình yêu đó đã đến với mỗi người chúng ta.

Hôm nay, chúng ta lấy trường hợp của cha Phạm Minh Sơn ở đây như một điển hình, nhưng chúng ta cũng phải suy nghĩ lại: mỗi người chúng ta phải là một Phạm Minh Sơn khác trong hoàn cảnh của mỗi người. Tôi đây cũng cảm nghiệm được tình yêu Chúa trong đời mình. Tình yêu đó, nhân dịp này, ngày hôm nay, gợi lên cho chúng ta biết mình được yêu thương như thế nào, biết tình yêu Chúa cao quý như thế nào. Nó không phải là những lời nói hấp dẫn. Tôi xin đan cử: khi tôi còn nhỏ, trong thành phố Dalat, đa số là người Pháp, người Việt rất hiếm hoi; nhưng ở ngoài đường thì thấy người Thượng rất nhiều. Vì đây là đất của họ, đây là nhà của họ, họ rất thoải mái, tự do. Lúc bấy giờ người đàn ông không mặc quần, chỉ đóng khố…. Chúng tôi nhìn vào và hơi sợ… Thế nhưng, ngay từ đầu, từ vị linh mục đầu tiên có khuynh hướng đến với người Thượng, những người nghèo, những người thất học, những người bệnh hoạn… Đó là tiếng gọi của Tin mừng, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô luôn nhắc đi nhắc lại: “đó là lẽ sống của chúng ta: yêu thương những người nghèo khó, giúp đỡ những người thiếu thốn, chăm sóc những người cô đơn… đó chính là Tin mừng sống động của Chúa.

Khởi đầu là như vậy, chúng ta lướt nhanh cho đến giây phút chúng ta đang sống đây….

Tôi mới hỏi lại cho biết chắc chắn: Giáo phận chúng ta có 7 giáo hạt; trong đó 3 giáo hạt có người Công giáo Thượng đông hơn người Kinh; 2 giáo hạt số người đó ngang ngửa với nhau; còn lại 2 giáo hạt có người Kinh đông hơn. Tôi nhớ không lầm, thì trước kia tôi nói một câu, có lẽ do đột xuất thôi: Giáo phận Dalạt này tương lai nằm trong tay của người Thượng. Nói như vậy vì do cảm xúc, chứ không dựa trên những tiêu chuẩn hay những lý luận. Nhưng với thời gian, tôi thấy sự hiện diện của người Thượng trong Giáo phận Dalat này là cái kho tàng giấu trong ruộng, là viên ngọc quý mà người đi buôn tìm cho được, và khi tìm được rồi thì bán tất cả để mua cho được mảnh vườn đó, tậu cho được viên ngọc quý đó. Đó là điều mà Giáo phận Dalat – trải qua các đời mục tử đều dứt khoát đi trên con đường đó. Từ Đức cha Gioan Cassaigne, đến Đức cha SimonHòa Nguyễn Văn Hiền, đến Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, tôi kế nhiệm, rồi đến Đức cha Antôn và nay là Đức cha Đaminh. Tôi rất vui khi biết từ dịp tĩnh tâm linh mục vừa rồi Đức cha Đaminh đã chọn ngày thứ năm hàng tuần để cử hành thánh lễ bằng tiếng Thượng.

Thưa anh chị em, trong một thời gian ngắn, giáo phận đã đi một bước rất dài. Tôi lấy một ví dụ: cuốn sách lễ trên bàn thờ - gọi là sách lễ Rôma - ngay bản dịch bằng tiếng Việt cũng chưa hoàn thành, bản dịch đang dùng đây cũng là bản tạm. Ấy thế mà đã nhiều năm, bản bằng tiếng Thượng đã được Tòa Thánh phê chuẩn. Chúng ta cũng đã có Phúc Âm, Tân Ước, một phần sách Cựu Ước, sách giáo lý, sách hát bằng tiếng Thượng; đó là về phụng vụ. Còn trên phương diện văn hóa, chúng ta đã tích được 2 bản trường ca. (Trong đất nước chúng ta, trường ca đầy đủ chỉ có 7, vậy mà riêng người Thượng ở Dalat đã có 2)…. chưa kể bao nhiêu ca dao, tục ngữ nữa … đó là cả một kho tàng; mà kho tàng đó lại được trao cho kẻ mang tiếng là “khù khờ”. Vì trong đóng góp này, cha Phạm Minh Sơn đã để cả 50 năm để làm – tôi dám khẳng định với anh chị em điều đó - vì tôi đã được Ngài mời về Tam Bố này cùng với 12 Thầy … đào hố vệ sinh, cắt tóc… vào các tháng hè.

Đúng là hạt giống Tin Mừng được gieo vào bãi đất, và tự nó dần dần mọc lên, hôm nay chúng ta thấy sinh hoa quả như thế nào! 150.000 người Thượng Công giáo trong giáo phận, trong tổng số 250.000 người là một tỷ lệ rất cao. Đó là điều chúng ta thấy được bề ngoài. Nếu chúng ta soi chiếu vào trong tâm hồn họ, sự thánh thiện, sự đạo đức, đức tin, sự chân thành… là những kho tàng rất tốt…

Hôm nay tôi có cơ hội để nói một vài điều, cùng với cha Sơn, cùng với Đức cha , cùng với anh em linh mục, dâng lên tạ ơn Chúa… những kết quả không thể đo lường được bằng thước tấc, bằng tiền bạc, nhưng ăn sâu vào trong tâm hồn.

Chúng ta cám ơn Chúa…

Giờ đây tôi có vài lời với anh chị em Dân Tộc, để nói với họ hãy cám ơn Chúa, vì Chúa đã thương yêu họ cách đặc biệt và rất cụ thể, khi Chúa ban cho họ những linh mục như cha Sơn, cha Trọng, cha Khoa, cha Thược, cha Huân… Tính ra trong giáo phận này phải có ít nhất trên 70 cha lo cho người Thượng, trực tiếp hoặc gián tiếp.  Không có một Giáo hội địa phương nào lại dành một số nhân viên ưu tú của mình mà lo cho như vậy. Chúng ta phải cám ơn Chúa và tiếp tục cầu nguyện.

 

--------------------------------------------------------------------------------
Mừng Kim Khánh Linh Mục Cha Giuse Phạm Minh Sơn, Gx Tam Bố - Dilinh
--------------------------------------------------------------------------------

 

 

 


Trang Mục Lục 11-2020