VỀ VIỆC HÀNH HƯƠNG

1.   Trong Tông Sắc “Mầu nhiệm Nhập Thể” (số 7-8), Đức thánh cha Gioan-Phaolô II đã viết như sau về việc hành hương là một cử hành đặc biệt của Năm Thánh :

Qua dòng lịch sử, việc thiết định Năm Toàn Xá ngày càng giầu những dấu chỉ chứng thực lòng tin và trợ giúp lòng đạo đức của dân Kitô-giáo. Trong số những dấu chỉ đó, trước hết phải kể đến việc hành hương. Việc hành hương này gợi lên thân phận của con người ưa miêu tả cuộc hiện sinh của mình như một cuộc đăng trình. Từ khi sinh ra đến lúc chết đi, mỗi người đều sống trong thân phận lữ khách, hoàn toàn riêng tư. Về phần mình, Sách Thánh đã nhiều lần chứng thực giá trị của việc lên đường để đi đến những nơi thánh ; thường thì người Israel có thói quen hành hương về thành phố ở đó còn lưu giữ hòm bia giao ước, hoặc họ đi viếng điểm hành hương Béthel (xc Đnl 20,18), hoặc Silo, ở đó bà Anna, mẹ của Samuel, đã thấy lời cầu của mình được nhận lời (xc 1Sm 1,3). Tự nguyện vâng phục Lề luật, chính Đức Giêsu, cùng với Đức Maria và thánh Giuse, đã hành hương về thành thánh Giêrusalem (xc Lc 2,41). Lịch sử Giáo Hội là một nhật ký sống động về một cuộc hành hương chưa hề chấm dứt. Lên đường tiến về thành của các thánh Phêrô và Phaolô, tiến về Đất Thánh hay về những địa điểm hành hương cổ xưa hoặc mới mẻ được dâng kính cho Trinh nữ Maria và Các Thánh : đó là mục tiêu của biết bao tín hữu muốn qua đó để bồi dưỡng cho lòng mộ đạo của mình.

Hành hương luôn luôn là một thời điểm ý nghĩa trong cuộc đời các tín hữu, tùy theo thời đại mặc lấy những lối diễn tả văn hóa khác biệt. Nó gợi lên hành trình riêng biệt của người tín hữu dõi theo bước chân Đấng Cứu Chuộc : đó là một thực hành khổ chế đầy phúc lợi, là ăn năn vì những yếu đuối con người, là liên tục tỉnh thức trước sự dòn mỏng của bản thân, là sửa soạn tâm hồn để cải biến tâm tư. Nhờ tỉnh thức, chay tịnh, nguyện cầu, người hành hương tiến triển trên đường trọn lành Kitô giáo, nhờ sự nâng đỡ của ân sủng Thiên Chúa, họ cố gắng đạt đến "tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô" (Ep 4,13).

Cuộc hành hương được đi kèm bằng dấu hiệu cửa thánh, lần đầu tiên được mở ra tại đền thờ Đấng Cứu Độ Latran thời kỳ Năm Toàn Xá 1423. Cửa thánh gợi lên rằng mọi Kitô hữu được kêu gọi để đi từ tội lỗi đến ân sủng. Đức Giêsu đã nói : "Tôi là đường" (Ga 10,17), để cho thấy rằng nếu không nhờ Người thì chẳng ai có thể đến với Chúa Cha. Việc Đức Giêsu quả quyết về Người như thế đã chứng tỏ rằng duy mình Người là Đấng Cứu Độ được Chúa Cha gửi đến. Chỉ có một cửa duy nhất mở rộng lối vào đời sống hiệp thông với Thiên Chúa, và cửa đó chính là Đức Giêsu, nẻo đường cứu độ duy nhất và tuyệt đối. Lời thánh vịnh : "Đây chính là cửa đền Đức Chúa : hãy tiến vào, hỡi những người công chính !" (Tv 118 [117], 20) chỉ có thể áp dụng trọn vẹn cho một mình Người.

Ý nghĩa cửa gợi lên trách nhiệm của mọi tín hữu là phải vượt qua ngưỡng cửa. Bước qua cửa này tức là tuyên xưng Đức Kitô là Chúa, bằng cách khẳng định niềm tin của ta nơi Người để sống đời sống mới Người đã ban cho ta. Đây là một quyết định giả thiết sự tự do trong chọn lựa, cũng như lòng can đảm từ bỏ một điều gì, biết rằng làm như vậy người ta đạt được sự sống thần thiêng (xc Mt 13,44-46). Chính trong tinh thần này thì Giáo Hoàng là người đầu tiên sẽ bước qua cửa thánh vào đêm 24 rạng ngày 25 tháng Mười Hai 1999. Đi qua ngưỡng cửa này, Giáo Hoàng sẽ trình bày cho Giáo Hội và thế giới cuốn Phúc Âm thánh, nguồn mạch sự sống và hy vọng cho ngàn năm thứ ba đang đến. Qua cửa thánh, mà ý nghĩa lại càng rộng hơn ở vào cuối một thiên niên kỷ, thì Đức Kitô sẽ đưa chúng ta vào sâu hơn nữa trong Giáo Hội, Thân Thể và Hiền Thê của Người. Như vậy chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa sâu xa nơi lời nhắc nhủ của Tông đồ Phêrô khi ngài viết rằng một khi nối kết với Đức Kitô chúng ta cũng trở thành "như những viên đá sống động mà xây nên ngôi đền thờ thiêng liêng và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Ngài" (1Pr 2,5).

2.   Cũng về hành hương, văn kiện của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích ngày 17 tháng 12 năm 2001 viết :

279. Hành hương là một thực hành tôn giáo phổ biến và cũng là biểu hiện điển hình của lòng đạo đức bình dân ; thực hành này liên kết chặt chẽ với đền thánh và tạo nên một yếu tố không thể thiếu được trong sinh hoạt của đền thánh : thật thế, có thể khẳng định rằng hành hương cần có đền thánh, cũng như ngược lại, đền thánh cần có hành hương.

280. Trong Kinh Thánh, do tính chất biểu tượng tôn giáo, trước tiên phải làm nổi bật những cuộc hành hương của các tổ phụ Abraham, Isaac à Giacob đến Sichem (x. St 12,6-7 ; 33,18-20), đến Bêthel (x. St 28,10-20 ; 35,1-15) và đến Mambrê (x. St 13,18 ; 18,1-15), nơi Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho các ngài và hứa ban cho các ngài miền "đất hứa".

Ngọn núi trên đó Thiên Chúa hiện ra với ông Môisen (x. Xh 19–20), núi Sinai, đã trở nên một nơi linh thiêng đối với các bộ tộc Do Thái sau khi thoát khỏi Ai Cập ; sau đó, cuộc vượt qua sa mạc Sinai được họ xem như hình ảnh một cuộc hành hương dài sẽ đưa họ đến miền đất hứa : hành trình này đã được Thiên Chúa chúc lành, khi cùng đồng hành với dân Ngài, hướng dẫn họ và che chở họ từ giữa Đám Mây (x. Ds 9,15-23) ; những dấu chỉ và sự hiện diện của Ngài là Hòm Bia Giao Ước (Ds 10,33-36) và Lều Hội Ngộ (x. 2Sm 7,6).

Giêrusalem khi trở thành nơi tọa lạc của Đền Thờ và Hòm Bia Giao Ước, được người Do Thái xem như thành-đền-thánh của họ, cũng như đích đến cao cả nhất của "hành trình thánh" biết bao mơ ước (Tv 84/83,6), mà trong suốt cuộc hành trình khách hành hương tiên bước "cùng muôn tiếng reo mừng tán tạ, giữa sóng người trảy hội ltrưng bừng" (Tv 42,5).

Mỗi năm ba lần, tất cả đàn ông con trai Israel phải đến "trình diện trước tôn nhan Thiên Chúa" (x. Xh 23,17), nghĩa là họ bắt buộc phải lên Đền thờ Giêrusalem : ba cuộc hành hương vào dịp lễ Bánh không men (Vượt qua), lễ Tuần (Tạ mùa) và lễ Lều ; cũng thế, các gia đình đạo đức trong dân Israel không bao giờ bỏ qua việc lên thành thánh để cử hành lễ Vượt qua hằng năm, đó cũng là điều gia đình Đức Giêsu đã làm (x. Lc 2,41). Trong suốt cuộc đời công khai của Người, Đức Giêsu đều đặn đi hành hương lên Giêrusalem (x. Ga 11,55-56). Cũng phải ghi nhận rằng, về vấn đề này, thành sử Luca đã trình bày hoạt động cứu độ của Đức Giêsu như một cuộc hành hương, mạc khải cho thấy mầu nhiệm về bản thân Ngài (x. Lc 9,51–19,45) ; thực thế, mục tiêu có chủ ý của sứ vụ Chúa là Giêrusalem, thành của Đấng Mêsia, là nơi diễn ra cuộc hiến tế vượt qua của Người và là nơi kết thúc cuộc xuất hành hướng về Chúa Cha : "Thầy từ Cha mà đến và Thầy đã đến trong thế gian ; giờ đây Thầy lại bỏ thế gian mà về cùng Cha" (Ga 16,28).

Cuối cùng cũng cần lưu ý rằng Giáo Hội khởi đầu hành trình truyền giáo của mình vào dịp có cuộc tụ họp đông đảo những người hành hương về Giêrusalem, là "những người Do Thái sùng đạo từ các dân thiên hạ trở về" (Cv 2,5).

281. Các kitô-hữu cho rằng không còn nơi hành hương nào họ phải đến nữa ; thực thế, một mặt Chúa Giêsu đã mạc khải mầu nhiệm về Đền thờ bằng cách lấy Đền thờ để chỉ về chính bản thân Người (x. Ga 2,21-22), và mặt khác, Người đã từ thế gian này mà về với Chúa Cha (x. Ga 13,1) qua việc đích thân hoàn tất cuộc xuất hành chung cuộc ; nên từ đó toàn bộ đời sống của các môn để Chúa Kitô là một hành trình tiến về đền thánh trên trời, và chính Giáo Hội cũng ý thức là đang "trên đường hành hương dưới thế" (x. Công Đồng Vaticanô II, sắc lệnh về hoạt động Truyền giáo Apostolicam actuositatem, 14).

Tuy vậy, những giao tiếp không thể chối cãi giữa một bên là giáo huấn của Đức Kitô và bên kia là các giá trị tinh thần của việc hành hương đã thúc đẩy Giáo Hội, không chỉ công nhận tính chính đáng của hình thức đạo đức này mà còn khuyến khích việc này trong suốt nhiều thế kỷ.

282. Trong ba thế kỷ đầu, không kể một vài biệt lệ, hành hưng không ở trong số những biểu hiện phụng tự của Kitô-giáo : Giáo Hội thời bấy giờ e ngại sự quảng bá giữa những người đã chịu phép rửa tội, các phong tục tôn giáo có nguồn gốc từ Do-thái-giáo hay ngoại-giáo, mà việc tổ chức hành hương đang vào thời kỳ cực thịnh.

Dù sao, vào thời đó cũng phải ghi nhận rằng, trong bối cảnh Kitô-giáo, nhiều nền tảng mới đã được thiết lập, tiên báo một sự phục hồi của việc hành hương : chủ yếu đó là việc tôn kính các Thánh tử đạo. Trong thực tế, các tín hữu tìm đến lăng mộ các chứng nhân của Đức Kitô đặc biệt gương mẫu này để tôn kính di hài các ngài ; thế rồi việc ban đầu chỉ là một cuộc "kính viếng" dần dà lại mặc lấy tính cách của một cuộc "hành hương đạo đức" thực sự.

283. Sau khi được yên ổn nhờ hoàng đế Constantinô, và tiếp theo việc công nhận các nơi thánh và việc khám phá ra các di tích của cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, hành hương Kitô-giáo đã tiếp cận giai đoạn có thể được gọi là bước ngoặt quyết định : hành hương thường diễn ra nhất là vào dịp các kitô-hữu đi viếng Palestina. Thực ra, toàn bộ vùng đất này được các tín hữu xem như một "Thánh Địa", vì sự hiện hữu của những "địa điểm thánh", bắt đầu từ Giêrusalem. Những trình thuật của khách hành hương nổi tiếng trong thế kỷ IV làm chúng cho sự sùng mộ này : đặc biệt là cuốn Hành trình của BurdigalenseHành trình của Egeria.

Chẳng bao lâu sau, những vương cung thánh đường được xây trên các "nơi thánh" như thánh đường Anastasia được xây ngay trên Mồ Thánh và thánh đường Martyrium trên núi Calvariô, là những thánh đường đặc biệt được khách hành hương kính viếng, do tầm quan trọng của các biến cố cứu độ mà những nơi này khơi gợi lại. Tại những nơi khác, như nơi đã diễn ra thời thơ ấu của Chúa Cứu Thế và đời sống công khai của Người : những nơi này cũng trở thành địa điểm hành hương, và rồi dần dần các nơi thánh trong Cựu Ước cũng thế, đặc biệt là núi Sinai.

284. Thời Trung cổ được xem như thời vàng son của các cuộc hành hương : ngoài chức năng tôn giáo, vai trò của các cuộc hành hương còn có tính quyết định trong việc cảm hóa thế giới Kitô-giáo phương Tây, vì đã góp phần vào việc pha trôn các sắc dân khác nhau cùng sống trên lục địa Âu châu vừa thúc đẩy sự trao đổi qua lại giữa các dân tộc này trên phương diện văn hóa.

Những địa điểm hành hương lúc bấy giờ thật nhiều. trước tiên phải kể đến Giêrusalem, mặc dầu bị Hồi-giáo chiếm đóng, vẫn taiọ được một sức lôi cuốn tinh thần rất quan trọng : vì thế Giêrusalem là nguyên nhân của hiện tượng thập-tự-chinh, mà lý do và nền tảng của hiện tượng này là làm sao để ácc tín hữu có thể đi hành hương đến mồ Đức Kitô ; Giêrusalem còn khơi gợi việc tôn kính các di tích của cuộc Thương Khó Chúa Giêsu : như áo dài, tấm khăn còn lưu nhan thánh Chúa, cầu thang thánh (scala sancta) và khăn liệm đã thu hút vô số tín hữu và khách hành hương. Rôma vào thời kỳ này cũng đón tiếp nhiều khách hành hương đến để tôn kính mộ của hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô (ad limina apostolorum), đi viếng các hầm mộ và các vương cung thánh đường, và gặp gỡ đấng Kế nhiệm Thánh Phêrô, nhìn nhận thừa tác vụ đặc biệt của vị này trong việc phục vụ Hội Thánh toàn cầu (ad Petri sedem).

Cũng vậy, việc hành hương mộ Thánh Giacôbê ở Compostella được tổ chức rất thường xuyên giữa thế kỷ IX và XVI và còn mãi đến nay : khách hành hương quy tụ về địa điểm thánh này theo nhiều "nẻo đường" chạy ngang dọc qua nhiều quốc gia ở châu Âu ; cuộc hành hương này gồm nhiều khía cạnh khác nhau thuộc phạm vi tôn giáo, xã hội và bác ái, có tính bổ túc cho nhau. Trong số những nơi hành hương khác nổi tiếng nhất, còn có thể kể là : Tours, nơi có mộ Thánh Martinô, đấng sáng lập Giáo Hội tại đó ; Cantebury, nơi chịu tử đạo của Thánh Thomas Becket, vị Thánh có tiếng vang rất lớn trên toàn châu Âu ; Mont-Gargan, trong vùng Les Pouilles ; Saint-Michel de Cluse trong vùng Piémont và núi Saint-Michel vùng Normandie, là những nơi được cung hiến cho tổng lãnh thiên thần Michael ; cuối cùng là Walsingham, Rocamadour và Loretta, là những đền thánh nổi tiếng được cung hhiến cho Đức Trinh Nữ Maria.

285. Đến thời cận đại, những thay đổi văn hóa và những thăng trầm theo sau sự xuất hiện các phong trào thể phản, cũng như ảnh hưởng của thuyết thiên khải đã kéo theo sự suy tàn của các cuộc hành hương : "hành trình hướng tới một xứ xa xôi" khi ấy lại trở nên một "cuộc hành hương thiêng liêng", một "lộ trình nội tâm" hay một "cuộc tước tượng trưng" mà tuyến đường ngắn gọn, như trong trường hợp Đàng Thánh Giá (Via Crucis).

Từ hậu bán thế kỷ XIX, người ta chứng kiến việc phục hồi các cuộc hành hương ; tuy nhiên diện mạo của chúng đã ít nhiều đổi thay ; chúng có mục đích dẫn đưa các tín hữ đến các ngôi đền thánh vốn gợi lại căn tính đức tin và văn hóa của một dân tộc xác định : chẳng hạn như các ngôi đền thánh ở Altoting, Aparecida, Assisi, Caacupé, Chartres, Coromoto, Czestochowa, Emakiliam-Angalamy, Fatima, Guadalupe, Kevelaer, Knock, La Vang, Lorette, Lourdes, Mariazell, Marienberg, Montevergine, Montserrat, Nagasaki, Namu-gongo, Padoue, Pompei, San Giovanni Rotondo, Washington, Yamoussoukro, v.v…

286. Mặc dù những đổi thay phải chịu qua bao thế kỷ, hành hương vẫn bảo tồn cho tới thời đại chúng ta những đặc tính chủ yếu, xác định linh đạo đặc thù của nó :

Chiều kích cánh chung : chiều kích chính yếu này là nguồn gốc của việc hành hương, đó là một cuộc "đi lên đền thánh", nghĩa là một thời điểm và một ẩn dụ về con đường dẫn đưa tới Nước Trời. thực thế, cuộc hành hương giúp người tín hữu nhận thức chiều kích cánh chung của đời mình với tư cách là một người đã chịu phép rửa. người tín hữu là một khách lữ hành, mà sự hiện hữu lưu lại ở giữa bóng tối của niềm tin và sự kháo khát nhìn thấy thực tại muôn đời, ở giữa giới hạn chật hẹp của thời gian và khát vọng một cuộc sống vĩnh hằng, ở giữa sự mệt nhọc phải bước đi trên đường và sự đợi chờ được an nghỉ luôn mãi, ở giữa nước mắt chốn lưu đày với ươc mong hạnh phúc nơi quê hương trên trời, ở giữa sự xôn xao của cuộc đời hoạt động và niềm say mê sự thanh thản của chiêm niệm.

Hơn nữa, cuộc hành trình lâu dài của Israel đến miền đất hứa, gọi là xuất hành, cũng thuộc về linh đao hành hương : khách hành hương biết rằng "trên đời này chúng ta không có thành trì nào bền vững" (Dt 13,14), và vì thế, ngoài mục đích trước mắt là đền thánh, người ấy tiến bước qua sa mạc của cuộc đời, hướng về Nước Trời là Đất Hứa đích thực.

Người ta có thể nhận ra rằng việc đi đến một ngôi đền thánh đối với người tín hữu là một cơ hội đặc biệt thuận lợi, và thường là một cơ hội ta hằng ước mong, để được tiếp cận bí tích Sám hối. thật sự là việc hành hương đã từng được cảm nhận trong quá khứ – và ngày nay vẫn còn được đề xuất – như một tiến trình sám hối.

Khi cuộc hành hương được thực hiện đúng cách, người tín hữu sẽ rời ngôi đền thánh với quyết tâm "thay đổi cuộc đời", nghĩa là hướng cuộc đời mình về Thiên Chúa một cách cương quyết hơn ; như thế, người hành hương ước mong đem lại cho cuộc sống của mình một chiều kích siêu việt hơn.

Chiều kích lễ hội : Trong cuộc hành hương, chiều kích sám hối đi đôi với chiều kích lễ hội. người ta thậm chí có thể xác quyết rằng chiều kích lễ hội nằm ngay trtrung tâm của cuộc hành hương. Cuộc hành hương đảm nhận được một số bính diện mang tính nhân bản của lễ hội.

Niềm vui của cuộc hành hương Kitô-giáo xuất hiện như sự kéo dài niềm hân hoan mà người lữ hành Israel đạo đức đã từng cảm nghiệm. "Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi : chúng ta cùng đi đến nhà của Đức Chúa !" (Tv 122,1). Niềm vui ấy cũng góp phần phá vỡ sự đơn điệu của cuộc sống thường nhật khi tỏ bày một cái nhìn về tương lai khác với cái nhìn của thế gian ; nó giảm nhẹ trọng lượng thường đè lên cuộc sống, đặc biệt đối với người nghèo, là một gánh rất nặng phải mang. Niềm vui đó cũng xuất hiện như cơ hội để bày tỏ tình huynh đệ Kitô-giáo, sẵn lòng dành một chỗ lớn hơn cho sự thân mật chan hòa và tình bằng hữu ; cuối cùng nó mang dáng vẻ những biểu hiện tự phát, rất thường bị kiềm chế trong cuộc sống hằng ngày.

Chiều kích phụng tự : Hành hương chủ yếu là một hành động phụng tự. Thật vậy, khi tiến bước về ngôi đền thánh, người hành hương đến gặp gỡ Thiên Chúa để hiện diện trước tôn nhan Ngài, thờ lạy Ngài và cởi mở tấm lòng ra với Ngài.

Trong đền thánh, người hành hương thực hiện một số hành vi phụng tự, hoặc thuộc lãnh vực phụng vụ, hoặc thuộc lãnh vực lòng đạo đức bình dân. Lời cầu nguyện của họ mang nhiều hình thức rất đa dạng : cầu nguyện ca ngợi và tôn thờ Chúa vì lòng nhân từ và sự thánh thiện của Ngài ; cầu nguyện cảm tạ vì những ân huệ đã lãnh nhận ; cầu nguyện nhằm thực hiện một lời khấn để cam kết trước nhan Chúa ; cầu nguyện cho được các ơn lành cần thiết cho cuộc sống ; cầu nguyện để xin Chúa thứ tha tội lỗi đã phạm…

Người hành hương rất thường dâng lời cầu nguyện lên Đúc Trinh Nữ Maria, các Thiên Thần và các Thánh mà họ hằng coi một cách chính đáng như những đấng chuyển cầu cho mình bên Đáng Chí Tôn. Các ảnh tượng thánh, vốn được tôn kính trong ácc đền thánh, là những dấu hiệu sự hiện diện của Mẹ Thiên Chúa và các Thánh bên Chúa trong vinh quang, là Đấng "hằng sống để chuyển cầu cho loài người" (Dt 7,25) và là Đấng luôn luôn ở trong cộng đoàn tụ họp lại nhân danh Người (x. Mt 18,20 ; 28,20). Ảnh tượng thánh được tôn kính trong đền thánh, diễn tả Chúa Kitô hoặc Đức Trinh Nữ Maria, các Thiên Thần hay các Thánh, là dấu chỉ sự hiện diện và tình yêu quan phòng của Thiên Chúa ; vì vậy dấu chỉ đó là thánh. Ảnh tượng này cũng là chứng tích của biết bao lời cầu nguyện đã được dâng lên, từ thế hệ này sáng thế hệ khác : lời cầu nguyện nài xin trong những lúc bức thiết, lời cầu nguyện tỏ bày nỗi đau thương của những người sầu khổ, cả lời cầu nguyện nói lên niềm hân hoan cảm tạ của những người đã nhận được ân huệ và lòng thương xót.

Chiều kích tông đồ : Theo một nghĩa nào đó, cuộc hành hương tái tạo hành trình của Chúa Giêsu và các môn đệ Người, từng rảo bước trên những con đường ở Palestina để rao giảng Tin Mừng cứu độ. Do đó, cuộc hành hương là một việc loan báo đức tin, và khách hành hương là những "sứ giả lưu động của Chúa Kitô".

Chiều kích hiệp thông : Người hành hương đi đến đền thánh, hiệp thông trong lòng tin và đức ái, không chỉ với những kẻ cùng đi với mình trong "cuộc hành trình thánh" (Tv 84,6), mà còn với chính Chúa nữa. người đồng hành bên người ấy cũng như Người đã từng đi bên cạnh các môn đệ làng Emmaus (x. Lc 24,13-35). Khách hành hương cũng hiệp thông với cộng đoàn địa phương của mình, và qua cộng đoàn ấy với toàn thể Hội Thánh tức là Giáo Hội đang ở trên trời và Giáo Hội còn đang lữ hành trên trần gian. Người đó còn hiệp thông cả với những tín hữu mà, trong suốt bao thế kỷ, đã cầu nguyện trong cùng một ngôi đền thánh này. Khách hành hương hiệp thông với thiên nhiên bao quanh ngôi đền thánh mà họ rất ngưỡng mộ vẻ đẹp của nó, điều này thúc đẩy họ tôn trọng thiên nhiên. Cuối cùng, khách hành hương hiệp thông với toàn thể nhân loại, mà những nỗi đau khổ và niềm hy vọng được biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau trong ngôi đền thánh, và đã để lại nơi đây biết bao dấu chỉ của tài năng và nghệ thuật.

287. Theo hình ảnh của ngôi đền thánh, được xác định như nơi cầu nguyện, cuộc hành hương có thể được mô tả như một con đường mà mỗi chặng đường được đánh dấu và khơi động bằng lời cầu nguyện. Suốt cuộc hành trình dẫn đến đền thánh, Lời Chúa được dùng để soi sáng, hướng dẫn, nuôi dưỡng và nâng đỡ khách hành hương.

Sự thành công của một cuộc hành hương, về phương diện văn hóa cũng như đối với hoa quả thiêng liêng nó có thể đem lại cho người tín hữu, tùy thuộc vào cách tổ chức sắp đặt thật tốt các cuộc cử hành và việc trình bày thích hợp các giai đoạn khác nhau của cuộc hành hương.

Xuất phát cuộc hành hương phải được đánh dấu bằng một khoảnh khắc cầu nguyện, diễn ra tại nhà thờ giáo xứ hay ở một nơi thích hợp, có thể là cử hành một thánh lễ hay một phần Giờ Kinh Phụng Vụ, hoặc cũng có thể là một phép lành đặc biệt cho người hành hương.

Chặng cuối cuộc hành hương cần tăng cường cầu nguyện hơn. Trên đoạn đường gần đến đền thánh, nên đi bộ thành một đám rước kèm theo những lời cầu nguyện và bài hát. Những người hành hương dừng quên dừng lại bên các bức tượng dọc theo con đường dẫn đến đền thánh.

Việc đón tiếp đoàn người hành hượng có thể dành chỗ cho một thứ "phụng vụ ở ngưỡng cửa" ; điều này không chỉ nhằm nhấn mạnh chiều kích nhân bản của cuộc gặp gỡ giữa những người hành hương và những người có trách nhiệm nơi đền thánh, mà còn phải mặc lấy ý nghĩa cao cả trên bình diện đức tin. Hơn nữa, nếu có thể được, những người có trách nhiệm nơi đền thánh nên đích thân ra đón những người hành hương để cùng đi với họ đoạn đường cuối này.

Thời gian lưu lại nơi đền thánh dĩ nhiên là thời gian quan trọng nhất của cuộc hành hương, và tiêu biểu là sự quyết tâm của người hành hương muốn hoán cải bản thân, đương sự được mời gọi cụ thể hóa cuộc hán cải này bằng việc lãnh nhận bí tích Hòa giải. thời điểm này cũng được đánh dấu bằng những lời cầu nguyện đặc biệt, nghĩa là lời cầu nguyện cảm tạ, khẩn nguyện hay xin chuyển cầu, những lời cầu nguyện này liên hệ đến tính cách đặc thù của đền thánh và mục đích của cuộc hành hương. Sau cùng, cuộc hành hương cũng được đánh dấu bằng việc cử hành thánh lễ là cao điểm của cuộc hành hương.

Cuộc hành hương phải kết thúc bằng một khoảnh khắc cầu nguyện, có thể trong đền thánh hay trong nhà thờ tại nơi xuất phát cuộc hành hương. Đó là cơ hội để các tín hữu dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã ban cho có cuộc hành hương này mà giờ đây kết thúc, và cũng là ơ hội để họ cầu xin Chúa giúp họ sống tố hơn ơn gọi làm kitô-hữu khi trở về nhà.

Từ những thế kỷ đầu, người hành hương ao ước mag về những "kỷ vật" từ đền thánh. Nên lưu tâm đến chất lượng của các đồ vật, các ảnh tượng và những sách báo, để chúng có khả năng truyền đạt được tinh thần đích thực của đền thánh. Cũng cần phải lưu tâm để làm sao cho các điểm bán trong khuôn viên đền thánh không được mang tính thương mại.

(trích HƯỚNG DẪN VỀ LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN VÀ PHỤNG VỤ – nguyên tắc và định hướng, Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích 2001)

3.   Sắc lệnh số 882/08/I ngày 11/02/2009 về Năm Thánh 2010 dịp mừng 50 năm thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. cũng là năm Kim Khánh Giáo Phận Đàlạt, TÒA ÂN GIẢI TỐI CAO ban Sắc lệnh :

Tòa Ân Giải Tối Cao, thừa lệnh Đức Thánh Cha, ban ơn Toàn Xá, theo các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) được chu toàn đúng phép, cho các kitô-hữu thực tâm thống hối, trong tất cả và từng nhà thờ và nhà nguyện ở Việt Nam ; họ cũng có thể nhường ân xá cho các linh hồn ở luyện ngục :

4. mỗi lần, vì lý do đạo đức, họ đi hành hương, từng cá nhân hay theo đoàn thể, đến Nhà thờ Chính tòa hoặc một đền thánh được chỉ định trong Năm Thánh.[1]

4.   Để giúp tổ chức việc hành hương tại nhà thờ Chánh Tòa dịp Năm Thánh 2010 (từ 27/11/2009 đến 02/01/2011, xin được đề nghị cử hành theo sách De Benedictionibus (Sách các chúc lành, các số 404-430) như được trình bày dưới đây nhằm giúp cho các đoàn hành hương chuẩn bị tâm hồn, thực hành cuộc hành hương và đón nhận được nhiều hoa trái thiêng liêng từ cử hành đạo đức truyền thống này, vì nó “giúp cho các tín hữu hoán cải, nuôi dưỡng đời sống đạo của họ và cổ võ hoạt động tông đồ”.

5.   Nghi thức gồm hai giai đoạn : 1/ giai đoạn thứ nhất được tổ chức tại giáo xứ, trước lúc đoàn hành hương lên đường ; 2/ giai đoạn thứ hai được cử hành tại chính nhà thờ hành hương, sau khi mọi người đã tham dự thánh lễ hay một cử hành đạo đức (như : Lần chuỗi Mân Côi, đi Đàng Thánh Giá, chầu Mình Thánh Chúa…).[2]

 

 

 


Kim Khánh Giáo Phận



[1] Ngày 30 tháng 10 năm 2009, trong Thư gửi Giáo Phận, Đức cha Phêrô Giám mục Giáo phận Đàlạt đã quyết định :

Để "việc canh tân đời sống thiêng liêng trong suốt Năm Thánh, nhờ ơn Chúa, được đặc biệt tăng cường và phát huy" , và anh chị em có thể lãnh nhận ơn Toàn Xá với lòng đạo đức khi đi hành hương cá nhân hoặc theo đoàn thể, tôi chỉ định các nhà thờ sau đây :

Nhà thờ Chính Tòa, Lang Biang (hạt Đà Lạt),

Lạc Lâm, Tu Tra (hạt Đơn Dương),

Liên Khương, Thanh Bình, Đà Loan, Đạ Tông (hạt Đức Trọng),

Di Linh, Tam Bố, Hòa Ninh (hạt Di Linh),

Bảo Lộc, Tân Thanh, Tân Rai, Đạ Tẻh (hạt Bảo Lộc).

[2] Nếu c hành Thánh l, thì dùng bn văn Thánh lễ cu cho vic rao ging Tin Mng cho các dân tc (SLR 922tt) hay cu cho Hi Thánh địa phương (SLR 896) ; nếu không c hành thánh l, thì độc viên đọc Li Chúa như đã nói.