LP MT DÁN TRUYN GIÁO

CÓ MỤC TIÊU RÕ RỆT VỀ LƯỢNG VÀ PHẨM

CHO NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

(Mừng Năm Thánh 2010, xem lịch sử truyền giáo Việt Nam, Bài 6)

 

Lời mở

Về thời kỳ Bảo Trợ, sau khi đã mở ra xem lại những sự kiện khách quan trong lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, chúng ta không thể không ghi nhận ba sự kiện nổi bật sau đây :

                       

Công giáo vào Việt Nam loan báo Tin Mừng từ năm 1533.

Từ năm 1615, Công giáo Loan báo Tin Mừng bằng tiếng việt, hội nhập vào xã hội việt nam và thành lập nhiều cộng đoàn đầu tiên ;

Năm 1651, Công giáo đã khai sinh ra chữ quốc ngữ cho văn học việt nam.

 

Đọc lại những trang sử kể lại những sự kiện trên, nhất là những ký sự hành trình truyền giáo của các giáo sĩ dòng Tên, chúng ta đã đưa ra hai thẩm định :

                       

kết quả truyền giáo vượt quá tưởng tượng : về lượng, số tân tòng lên đến 100.000 người ; về phẩm, các cộng đoàn công giáo sống trong một Giáo Hội có hiệp nhất và yêu thương.

yếu tố chủ chốt là nhờ các cha Dòng Tên đã là những giáo sĩ truyền giáo trách nhiệm.

 

Ghi nhận những thẩm định này, chúng ta tiến sang bước thứ ba, tự hỏi : những kinh nghiệm truyền giáo thời kỳ Bảo Hộ có thể gợi gì cho ta để định hướng hoạt động cho tương lai trong những thập niên đầu của thiên niên kỷ III này ?

Đó cũng là ý muốn của HĐGMVN khi các ngài viết về mục đích thứ ba của Năm Thánh 2010 rằng :« Đồng thời cũng nhìn tới tương lai trong bối cảnh văn hoá xã hội đang đổi thay của những thập niên đầu thiên niên kỷ III, nhằm vận động cộng đồng Dân Chúa một lòng quyết tâm đáp trả tình thương của Chúa, và làm mới hình ảnh gia đình Giáo Hội tại Việt Nam theo hình mẫu mà Công đồng Vatican II 1965 đã phác hoạ như sau : Giáo Hội hiệp thông, Giáo Hội tham gia và Giáo Hội vì loài người » (1).

Có nhiều gợi ý mà lịch sử truyền giáo thời Bảo Trợ có thể gợi ra. Nhưng ba gợi ý sau đây, vừa phản ánh một cách trung thực tinh thần truyền giáo thời Bảo Trợ, vừa thích hợp và cần thiết cho việc truyền giáo của thiên niên kỷ thứ ba cho Giáo Hội Việt Nam.

                       

Lập một dự án truyền giáo có mục tiêu rõ rệt về lượng và phẩm ;

Đặt tin tưởng chủ yếu vào một hàng giáo sĩ truyền giáo trách nhiệm ;

Xin mở hồ sơ phong thánh cho cha Đắc Lộ.

 

Chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ về gợi ý thứ nhất : lập một dự án truyền giáo có mục tiêu rõ rệt về luợng và phẩm cho những năm đầu thế kỷ XXI.

Giáo hội Việt Nam tiến vào thiên niên kỷ thứ ba, muốn đặt cho mình một câu hỏi : phải làm gì cho tương lai để việc truyền giáo được tiếp tục phát triển ? Tương lai là tiếp tục của hiện tại ; và hiện tại là tiếp tục của quá khứ. Muốn cho ước vọng tương lai có tính thực tế và có hy vọng đạt kết quả, thì dự án phải khởi hành từ quá khứ và hiện tại. Vậy, để xây dựng dự án truyền giáo cho thời kỳ Chính Tòa, cho những năm đầu thế kỷ XXI, chúng ta cần xem qua lại dự án của hai thời kỳ trước là thời kỳ Bảo Trợ, 1533-1659 và thời kỳ Tông Tòa, 1659-1960.


 

1. Dự án truyền giáo của các giáo sĩ Dòng Tên thời kỳ Bảo Trợ, 1533-1659

Bất cứ một linh mục Dòng Tên nào cũng thấm nhuần mục tiêu truyền giáo của đời mình qua châm ngôn của dòng « Để Danh Chúa được cả sáng hơn, Ad mojorem Dei gloriam ». Có lẽ do đó mà mỗi linh mục Dòng Tên, ý thức rõ rệt hay tiềm ẩn trong vô thức, đều có một dự án truyền giáo. Mỗi linh mục Dòng Tên đều có một mục tiêu cụ thể và cá nhân cho mục tiêu « Để Danh Chúa được cả sáng hơn » của mình và có một số hành đông thực tế để thực hiện mục tiêu này. Người thì đi dậy học, rao giảng, người thì đi coi xứ, người thì đi truyền giáo,…

Khái niệm về « dự án », tiếng pháp là « projet », ở thế kỷ XV biểu thị « một ý tưởng mà người ta muốn đưa ra trước, hay một họa đồ, chương trình để thực hiện ý tưởng này ». Ở vào thời điểm thế kỷ XV, XVI, XVII, danh từ « dự án » đã được xử dụng trong những công trình xây cất, mà chưa được phổ biến trong các ngành hoạt động khác. Do đó, người ta chưa xác định rõ mục tiêu số lượng muốn đạt, nhưng đã xác định hướng đi và khuyến cáo những hành động cụ thể.

Trong dự án truyền giáo của Dòng Tên, hướng đi tổng quát là « Để Danh Chúa được cả sáng hơn » và hành động truyền giáo cụ thể đã được mười thành viên tiên khởi nhất trí đề nghị từ ngày thành lập vào năm 1540 là phục vụ các linh hồn và hỗ trợ Hội Thánh trong việc “bảo vệ và truyền bá đức tin”. Theo hướng đi và hành động tổng quát trên, qua các hoạt động cụ thể mà các giáo sĩ truyền giáo Dòng Tên đã làm ở Việt Nam, từ 1615 đến 1659, người ta có thể bảo rằng các ngài đã đưa ra một tiếp cận quản lý « hội nhập » như bước đầu, để rao giảng Tin Mừng cho lương dân Việt Nam vào đầu thế kỷ XVII. Từ tiếp cận này, các ngài đã đặc biệt thực hiện những việc làm cụ thể và chi tiết sau đây :

                       

Hiểu biết và tôn trọng khung cảnh tự nhiên của đời sống, cách sống văn hóa phong tục địa phương Việt Nam, về việc học hành, về nếp sống luân lý, gia đình, tổ tiên, làng xóm, lễ hội.

Tôn trọng những người có trách nhiệm trong quốc gia và trong xã hội ; nhiều lúc các ngài đã được các vua chúa, quan lại, nhân vật hoàng gia, nho sĩ, trí thức, thậm chí cả những bậc tu trì phật giáo, chấp nhận, kính trọng và mến phục.

Học biết và xử dụng tiếng việt, sáng tạo chữ quốc ngữ, giảng đạo bằng tiếng việt, thích nghi thuật ngữ công giáo, viết sách giáo lý Phép giảng tám ngày.

Thích nghi sâu xa với văn hóa xã hội trong việc cử hành các bí tích và thực hiện đời sống đạo.

Đào tạo các giáo hữu ưu tú Việt Nam và tuyển chọn họ làm những phụ tá và cán bộ dắc lực trong việc truyền giáo.

 

Nhờ cái hướng đi có chính đạo và những hoạt động cụ thể có thiên thời, địa lợi, nhân hòa trên đây, dự án truyền giáo của các giáo sĩ Dòng Tên đã đạt một kết quả thành công ngoài tưởng tượng. Chỉ trong khoảng thời gian 44 năm, từ 1615 đến 1659, hơn 100.000 lương dân việt nam đã gia nhập đạo công giáo. Và nhất là số 100.000 giáo hữu này đã sống trong một giáo hội có hiệp nhất và yêu thương. Kết quả là mục tiêu đã đạt được. Khi làm dự án truyền giáo, các cha Dòng Tên chỉ mới xác định mục tiêu một cách tổng quát là « Để danh cha được cả sáng hơn ». Nhưng bây giờ nhìn ra những kết quả, thì mục tiêu cụ thể và rõ rệt là : 1- truyền giáo được cho 100.000 tân tòng, 2- các giáo hữu tân tòng này có tinh thần hiệp nhất và yêu thương. Mục tiêu này nhắm một kết quả muốn đạt vừa có lượng vừa có phẩm. Và kết quả này đã đạt được.

2. Dự án truyền giáo của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris thời Tông Tòa, 1659-1960


 

Sang đến thời kỳ Tông Tòa, dự án truyền giáo cho Việt Nam đã được các vị hữu trách xác định minh bạch hơn. Ba tài liệu đã góp phần xác định dự án này.

Sắc lệnh « Super Cathedram » ngày 09/09/1659 của Đức Giáo Hoàng Alexandre VII đã xác định hướng đi truyền giáo cho hai giám mục đầu tiên ở Việt Nam khi bổ nhiệm họ rằng : Ta không ngừng nới rộng tầm nhìn trên toàn thể thế giới kytô, để lo lắng hết sức mà Ta có thể trong ơn Chúa, hầu hướng dẫn và săn sóc tinh thần cho hết các tín hữu trên khắp các quốc gia (2).

Chỉ thị truyền giáo « Instructio vicariorum apostolicorum ad regna Sinarum, Tonchini et Cocincinae profiscentium” ngày 10/11/1659 của Thánh Bộ Truyền Giáo (3) xác định rõ rệt « tiếp cận quản lý truyền giáo tôn trọng văn hóa địa phương » để rao giảng Tin Mừng cho dân Việt Nam. Một số nguyên tắc và hành động cụ thể đã được nêu ra qua ba phần của chỉ thị gởi ba giám mục tông tòa Đàng Ngoài, Đàng Trong và Nam Kinh, tức là Đức cha François Pallu, Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha Ignace Cotolendi.

Ở phần 1 « Trước khi lên đường », Bản Chỉ Thị khuyến cáo các Ðại Diện Tông Tòa nên chọn lựa các thừa sai trong những ứng viên có khả năng nhất trong việc phục vụ sứ mệnh thừa sai, và nhhững khả năng này đã từng chứng nghiệm ; Những đức tính quan trọng nhất cho người thừa sai là khôn ngoan, kiên nhẫn, khiêm nhường và nhất là có « lòng bác ái tin mừng » ; Người thừa sai phải biết thích ứng với những thói tục và tập quán của những nước hải ngoại và, như thánh Phaolô đã nói, « phải biết trở nên tất cả cho tất cả mọi người ».

Sang phần 2 « Trên đường hành trình », Bản Chỉ Thị cho các Ðại Diện Tông Tòa một số nguyên tắc hướng dẫn. Các ngài phải chọn lộ trình đi mà tránh gặp người Bồ Ðào Nha, cũng đừng đi qua những đường biển có tầu bề Bồ Ðào Nha kiểm soát. Có lễ nên đi đường bộ ; Xin các Ðại Diện Tông Tòa nên lên đường một cách kín đáo và đi đến Viễn Ðông qua lối Syrie và Ba Tư. Nước Bồ Ðào Nha chống lại việc thiết lập các Ðại Diện Tông Tòa, vì họ có những đặc quyền của chế độ Bảo Trợ, vậy xin các Ðại Diện Tông Tòa không nên yêu sách đòi hỏi bất cứ một quyền tài phán nào trong những vùng trực tiếp tùy thuộc chính phủ Bồ Ðào Nha. Các ngài sẽ phải trình lên Tòa Thánh một bản báo cáo chi tiết về tình hình Giáo Hội và tình hình các sở thừa sai trong những xứ mà các ngài đi qua.

Phấn 3 « Lúc thi hành sứ mệnh thừa sai » là phần quan trọng nhất đã đưa ra những chỉ thị và những hướng dẫn rõ rệt liên hệ đến công việc của các Ðại Diện Tông Tòa trong những nước mà các ngài làm sứ mệnh truyền giáo. Sáu chỉ thị căn bản đã được nêu ra : 1- Sứ mệnh căn bản của các Giám Mục Ðại Diện Tông Tòa là thiết lập hàng giáo sĩ địa phương. 2- Về vấn đề truyền chức giám mục cho các linh mục bản địa, các Ðại Diện Tông Tòa phải đệ trình lên La Mã. 3- Mọi công việc quan trọng, các Ðại Diện Tông Tòa, phải làm gương sáng, xin phép Tông Tòa. 4- Ðặc biệt cấm các Ðại Diện Tông Tòa không được dính líu vào chính trị. 5- Về phương diện mục vụ thừa sai, phải thích ứng vào tập tục và thói quen địa phương. 6- Phải thiết lập chủng viện đào tạo linh mục bản địa.

Chỉ dẫn các thừa sai « Monita ad Missionarios » 1664, do Công Ðồng Thừa Sai Hải Ngoại được hai Đức Cha Pallu và Lambert de la Motte triệu tập ở Ayuthia 1664, soạn thảo, đã đưa ra một chỉ dẫn cụ thể cho chương trình hoạt động truyền giáo Đàng Trong và Đàng Ngoài. Với tựa đề là « Chỉ dẫn thực hiện sứ mệnh truyền giáo, dành cho các thừa sai ở Trung Hoa, Bắc Việt, Nam Việt và Xiêm La, họp tại Juthia, thủ đô nước Xiêm » (4), Chỉ dẫn đã lấy lại những ý tưởng nền tảng của bản Chỉ thị gởi các Ðại Diện Tông Tòa ngày 10.11.1659 của Thánh bộ Truyền Giáo và đã đề cập đến ba ý tưởng nòng cốt là : 1- sự thánh hóa người tông đồ rao giảng ơn cứu rỗi kitô, 2- sự trở lại đạo của lương dân và 3- sự tổ chức Giáo Hội. Bản chỉ dẫn gồm 10 chương.


 

Ba chương đầu nói về con đường tu đức, cuộc sống thánh hoá mà nhà thừa sai, người truyền giáo cần phải có. Chương 1 nói về những cám dỗ mà thừa sai phải chống trả : quá lo lắng cho thân xác, tính tự phụ và hiếu danh, tính hà tiện. Muốn chống trả những cám dỗ này, hai phương tiện đã được công đồng nêu ra là cầu nguyện và đọc sách nguyện. Chương 2 nói về việc sửa soạn phải làm trước khi rao giảng tin mừng : Tĩnh tâm, ăn chay và cầu nguyện ; chống trả lại các nết xấu của mình và những cám dỗ của ma quỉ ; phải hiểu biết tình trạng truyền giáo ; phải học ngôn ngữ địa phương và phải biết nói ngôn ngữ này. Chương 3 nói về việc xử dụng các phương tiện vật chất trong tác vụ thánh : không được kinh doanh vì bất xứng với linh mục và càng bất xứng hơn với một người làm tông đồ ; không được dùng sức mạnh để cưỡng ép lương dân trở lại đạo ; không được nghiên cứu nghệ thuật và khoa học, nếu vì đó mà thợ rao giảng tin mừng quên mất sứ mệnh chính của mình là rao giảng.

Năm chương tiếp theo, các chương 4, 5, 6,7 và 8, nói về việc giảng dậy cho lương dân và những cách thế phải dùng đến : giảng dậy bằng gương sáng, bằng bác ái, bằng khôn ngoan, bằng trung dung. Bằng lời nói và dẫn giải thì nên tiến hành như sau : cắt nghĩa cho thấy sự hiện hữu của Thiên Chúa và những thuộc tính của ngài ; rồi giáo lý về sự thưởng phạt đời đời ; rồi đến sự tuyệt mỹ và trong sáng của đạo kitô sánh với những điều sai xấu phiếm thần ; sau đó, khi tân tòng đã khá hiểu biết, cắt nghĩa cho biết về tội tổ tông, về Chúa Ba Ngôi, về sự nhập thể, về thần tính của phúc âm, về sự tạo lập giáo hội.

Hai chương 9 và 10 nói về việc tổ chức giáo hội, qua 3 khía cạnh : tổ chức giáo xứ, các thầy giảng và việc đào tạo linh mục bản xứ.

Về việc tổ chức giáo xứ, bản Chỉ Dẫn đặc biệt lưu tâm đến những giáo xứ không có linh mục, việc tổ chức Ban Hành Giáo với những sứ mệnh và công việc của các nhân viên ban này.

Về các thầy giảng, bản Chỉ Dẫn nói rõ về trách nhiệm quan trọng của họ và về sự chọn lựa họ. Các thầy giảng là những người có rất nhiều trách nhiệm. Lần lượt, họ có thể được coi là thơ ký, người giữ nhà thờ, thầy giáo, dự thẩm, luật sư, triết gia, người rửa tội, tắt một lời, là những quản gia đích thực, họ là những trợ tá rất cần thiết của các thừa sai và là một trong những dụng cụ tông đồ ; không có họ, sự nhiệt tình hữu hiệu nhất cũng chẳng sinh kết quả gì ; có họ, rất nhiều điều trở thành dễ dàng. Linh mục là đầu, thầy kẻ giảng là cánh tay, nhưng là một cánh tay thông minh, biết ứng xử theo hoàn cảnh ; bình thường, nhờ thầy kẻ giảng mà nhà truyền giáo biết được tình hình khiến ông biết việc phải làm và xét đoán người phải hướng dẫn ; các ý kiến của thầy kẻ giảng dựa vào những hiểu biết sau xa về phong tục, tập quán, tư tưởng, tính xấu của người đồng hương, cung cấp những chỉ dẫn rất quí hóa. Do đó phải kỹ lưỡng chọn lựa họ.Về việc đào tạo linh mục bản xứ, công đồng đề nghị nên chọn lựa họ giữa những thầy giảng.

Nhờ dự án truyền giáo minh bạch xác định trên đây, các cha Thừa Sai Hải Ngoại Paris, cùng với các cha thuộc các dòng như Dòng Tên, Dòng Daminh, Dòng Phanxicô,… trong 300 năm thời kỳ Tông Tòa, từ năm 1659 đến 1960, đã tiếp tục được công trình truyền giáo đã thực hiện thời Bảo Hộ và đã gặt hái được một kết quả rất to lớn. Từ 100.000 vào năm 1659, dẫu liên tục bị khó khăn, cấm cản, bắt bớ, tàn sát, giáo hữu đã tăng lên đến 2.096.540 người, chiếm tỷ số 7.17% dân số trên tổng số 29.200.000 dân vào năm 1960. Và nhất là số giáo dân ấy chẳng những vẫn tiếp tục có tinh thần hiệp nhất và yêu thương mà còn can trường tuyên xưng đức tin : 130 000 giáo hữu đã chết vì đạo. Có thể nói đức tin của tín hữu công giáo việt nam đã tới mức trưởng thành.

Cũng giống như dự án của các cha Dòng Tên, Dự án của các cha Thừa Sai Hải Ngoại Paris chỉ đã được xác định một cách tổng quát về mục tiêu, qua Sắc Chỉ do Đức Giáo Hoàng Alexandre VII là « không ngừng nới rộng tầm nhìn trên toàn thể thế giới kytô, hầu hướng dẫn và săn sóc tinh thần cho hết các tín hữu trên khắp các quốc gia ». Bây giờ nhìn ra được kết quả, thì mục tiêu rõ rệt và cụ thề của dự án truyền giáo đã phải được xác định vào năm


 

1659 là : 1- Tăng số giáo dân từ 100.000 lên 2.094.540 cho 300 năm sau, vào năm 1960, 2- Và số giáo dân này vừa có tinh thần hiệp nhất và yêu thương, vừa can trường tuyên xưng đức tin. Mục tiêu này nhằm một kết quả phải đạt tới, vừa có lượng vừa có phẩm. Và cụ thể, mục tiêu này đã đạt được.

Hai kết quả truyền giáo rất tích cực của thời kỳ Bảo Trợ và của thời kỳ Tông Tòa có thể giúp ích gì cho Giáo Hội Việt Nam hiện đại, để xây dựng dự án truyền giáo tương lai cho thế kỷ XXI ? Câu trả lời tương đối dễ dàng : Rất nhiều. Kinh nghiệm truyền giáo của các cha Dòng Tên thời Bảo Trợ và của các cha Thừa Sai Hải Ngoại Paris thời Tông Tòa đã, đang và sẽ giúp ích rất nhiều cho việc truyền giáo thời Chính Tòa, đặc biệt cho thế kỳ XXI vừa bắt đầu. Ba kinh nghiệm quý giá, có giá trị lâu dài sẽ không thể không áp dụng trong việc truyền giáo ở Việt Nam trong thế kỷ XXI. Đó là : Việc truyền giáo 1- phải được thiết kế theo một dự án có mục tiêu về lượng và phẩm rõ rệt ; 2- phải được điều hành do một lực lượng giáo sĩ trách nhiệm ; 3- phải được thực hiện theo tiếp cận tôn trọng và hội nhập văn hóa lương dân.

3. Một đề nghị cho dự án truyền giáo thời Chính Tòa những năm đầu thế kỷ XXI

Dựa vào tiêu chuẩn làm việc theo kết quả chứ không theo giờ, phương pháp dự án là một trong những khám phá quản trị mà phương pháp quản trị chất lượng đã đem lại cho các người hành động có trách nhiệm quản trị. Phương pháp dự án đã được xây dựng trên nền tảng của bốn tiếp cận quản lý thực nghiệm : làm việc theo tiến trình, quyết định theo dữ liệu sự kiện và có số lượng, chiến lược theo phân tích tổng thể đa nguyên và tiến lên theo cải tiến liên tục.

Phương pháp dự án là một phương pháp làm việc rất khoa học và thực tiễn, được áp dụng trong tất cả các ngành nghề kinh tế xã hội, trong tất cả các xí nghiệp to nhỏ, trong tất cả các tổ chức á âu hiện nay. Dự án là một dự tính cho tương lai, với mục đích, kết quả muốn đạt được và chương trình thực hiện với những việc phải làm và những phương pháp, những dụng cụ phải có, để thực hiện tốt được những kết quả mong muốn.

Nhưng tương lai là cái tiếp tục, cái nối dài của hiện tại. Bởi vậy, muốn cho dự án được cụ thể, khả thi và hữu hiệu, dự án phải được xây dựng với những dữ kiện của hoàn cảnh hiện tại và những nguyên nhân đưa đến tình huống hiện tại này.

Theo phương pháp ‘Bánh xe Deming’, cũng gọi là PDCA, mỗi công việc đều được quản lý xoay vòng theo chiều bánh xe 4 giai doạn là : Hoạch định (to plan), thực hiện (to do), kiểm soát (to check) và thăng tiến (to act). Đó cũng là 4 giai đoạn chính yếu của một dự án. Ở giai đoạn thứ nhất, giai đoạn hoạch định, 4 việc phải làm là :

                       

Nhận định tình huống. Mục tiêu là nhận ra những tình huống thực tại, những tình huống khách quan, cụ thể và có tầm vóc quan trọng ; Nhờ nhận ra kết quả hiện tình của công việc một cách cụ thể cả về lượng lẫn về phẩm, ta sẽ biết thực tại hiện nay của mình thế nào, mà định hướng cho tương lai, về mục tiêu (có lượng và có phẩm) phải đạt và về chương trình (có những công việc và những phương tiện) phải làm ;

Phân tích những nguyên nhân khác nhau của những tình huống ấy hầu định được cái gì phải sửa bỏ, cải tiến hay sáng tạo cho tương lai. Kết quả đã đạt được thường do năm loại nguyên nhân phương tiện (les 5 moyens) tạo ra : chất liệu, dụng cụ, nhân sự, phương pháp, và thời thế. Phân tích nguyên nhân là tìm ra phương tiện nào yếu kém đã đưa đến kết quả yếu kém, phương tiện nào mạnh mẽ đã đưa đến kết quả tốt.

Xác định những mục tiêu mới muốn đạt cho tương lai, với những kết quả cụ thể có thể nhận ra và đo lường được, vừa có lượng vừa có phẩm ; để cải tiến tình huống hiện tại, xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Mục tiêu này là kết quả tương lai muốn đạt, phải được


 

                         

xác định tùy theo kết quả hiện tại đã đạt, và trong tương quan với những nguyên nhân đã tạo ra kết quả hiện tại đã đạt.

Phác thảo một chương trình làm việc với những việc phải làm, những phương tiện nhân sự, vật liệu, phương pháp, dụng cụ và thời biểu rõ rệt ; để loại bỏ những nguyên nhân đã cầm chân công việc ở tình huống hiện tại, hầu đạt mục tiêu mới đã xác định cho tương lai.

 

1. Nhận định tình huống

3. Xác định mục tiêu

Cụ thể

Mục tiêu

Khách quan, ai cũng thấy

Kết quả cụ thể mong muốn

Tầm vóc quan trọng

Chỉ tiêu đo lường

2. Phân tích nguyên nhân

4. Phác thảo chương trình làm việc

Nguyên nhân 1

Hành động 1

Nguyên nhân 2

Hành động 2

Nguyên nhân 3

Hành động 3

Nguyên nhân 4

Hành động 4

 

Qua bốn giai đoạn với những công việc chính yếu phải làm cho mỗi giai đoạn, và nhìn vào những công việc đang được thực hiện, chúng ta thấy rằng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã hé cho chúng ta thấy một đề nghị mà các ngài đang muốn phác thảo cho dự án truyền giáo ở Việt Nam. Trong bài này, chúng ta đặc biệt nhìn hai điểm : thực tại truyền giáo hiện nay, và mục tiêu phát triển cho tương lai.

31. Thực tại truyền giáo hiện nay

Qua bài nghiên cứu « Hiệu quả truyền giáo ở Việt Nam trong những năm gần đây - Nghi vấn và giải thích », phổ biến trên VietCatholic News, ngày 03 tháng 03 năm 2009 (5), linh mục Antôn NGUYỄN NGỌC SƠN, Thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chủ nhiệm Văn Phòng Thư Ký Giáo tỉnh Tp.Hồ Chí Minh, kiêm phụ trách Bản Tin Hiệp Thông, từ năm 1998 đến ngày 24-3-2008, đã lập một bảng « Tình trạng truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam », từ năm 1960 và nhất là trong những năm 2000. Bảng tình trạng này đã được thiết lập, dựa theo các số liệu thu thập từ nhiều nguồn khác nhau : Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam ; Niên giám Thống kê của Cục Thống kê TP. HCM ; Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam,…

Hai tiếp cận đã được cha Sơn xử dụng để lập bảng tình trạng này. Tiếp cận thứ nhất, nhìn thẳng vào Giáo Hội Việt Nam, đã trình bày « Thực tại truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam » qua 5 khía cạnh khác nhau.

Trước nhất là tỷ số dân công giáo và dân cả nước. Một cách tổng quát, « từ năm 1960-2008, tỷ lệ dân số Công giáo Việt Nam so với dân số cả nước không tăng lên được 1%.

- Năm 1960 : tổng số dân Việt Nam là 30.172.000. Công giáo là 2.094.540, chiếm tỷ lệ khoảng 6,93%.


 

- Năm 2000: tổng số dân Việt Nam là 77.635.400. Công giáo là 5.234.303, chiếm tỷ lệ 6,7% (x. Thống kê Giáo hội Việt Nam 1933-2007, Bảng 12, tr. 26).

- Năm 2007: tổng số dân Việt Nam là 85.154.900. Công giáo là 6.087.659, chiếm tỷ lệ 7,15% » (x. Thống kê Giáo hội Việt Nam 1933-2007, Bảng 12, tr. 26).

Thứ hai là hai nguồn dân số công giáo : số trẻ sơ sinh và số người lớn trở lại đạo. « Trong vòng 50 năm qua, số dân Công giáo Việt Nam tăng từ 2 triệu vào năm 1960 lên đến hơn 6 triệu vào năm 2007. Như thế là tăng gấp 3 lần. Số tăng này hầu như là do số sinh tự nhiên nên chưa có thể nói được là do truyền giáo. Nếu ta so sánh số trẻ sơ sinh được rửa tội hằng năm với số Công giáo tăng hằng năm sẽ thấy hai số đó gần như bằng nhau (x. Tổng kết Nhân sự các Giáo phận từ 2000-2007, Bảng 21, tr. 48). Tổng số trẻ rửa tội từ 2001 đến 2007 là 761.711 (x. Tổng kết Tình trạng Bí tích từ năm 2000-2007, Bảng 23, tr. 50). Trong khi số tăng tín hữu từ năm 2001 đến 2007 là: 6.087.659 – 5.324.492 = 763.167 người (x. Bảng 21, tr. 48). Chênh lệnh (761.711 - 763.167) 1.456 người.

Số người lớn trở lại đạo từ năm 2001 đến 2007 là 242.176 và số trẻ từ 1 đến 7 tuổi được rửa tội là 52.524 (x. Tổng kết Tình trạng Bí tích từ năm 2000-2007, Bảng 23, tr. 50). Nếu tính số tử của người Công giáo là 8%o như số trung bình của toàn quốc thì số trẻ được rửa tội từ 1 đến 7 tuổi tương đương với số người chết. Còn số người lớn trở lại đạo 242.176 đáng lẽ phải được cộng thêm vào tổng số tín hữu (6.087.659 + 242.176 - 1.456 = 6.328.379), nhưng lại biến mất mà không tìm được lời giải thích. Không lẽ có cả hàng trăm ngàn người bỏ đạo từ năm 2001-2007?!

Thứ ba là lý do chính yếu khiến người lớn theo đạo. « Trong vòng 7 năm gần đây (2001-2007), số người trở lại đạo trung bình mỗi năm khoảng 35.000 người (242.176: 7 năm = 34.597 (x. Bảng 23, tr. 50). Nếu quan sát các lớp học giáo lý tân tòng, ta thấy có tới 80-90% người muốn theo đạo là để lập gia đình với người có đạo. Vậy động lực theo đạo thật sự của họ là gì? Họ có thể sống đạo và giữ đạo lâu dài không? Đã có câu mỉa mai để nhắc nhở ta về tình trạng này:

Sấp mình lạy Chúa Ba Ngôi

Tôi lấy được vợ, tôi thôi nhà thờ »!

Thứ tư là tỷ số người trở lại đạo với số nhân sự lo việc truyền giáo. « Một nhận xét khác là số người trở lại đạo không tương xứng với số nhân sự lo việc truyền giáo. Nếu ta tổng cộng số linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và giáo lý viên trong cả nước hay trong một giáo phận, ta sẽ thấy kết quả này là khá nhỏ bé.

Thí dụ: năm 2007, Giáo hội Việt Nam có 3.510 linh mục, 1.370 chủng sinh, 1.765 chủng sinh dự bị, 1.798 tu sĩ nam, 13.170 tu sĩ nữ, 56.133 giáo lý viên (x. Bảng 21, tr. 48) vậy mà chỉ thu hút được 40.778 người (x. Bảng 23, tr. 50). Đây là số cao nhất trong mấy năm gần đây. Trung bình cứ 2 người tín hữu ưu tuyển mới thu hút được 1 người theo đạo. Đó là chúng ta chưa nói đến cả triệu đoàn viên các hội đoàn Công giáo Tiến hành ».

Thứ năm là sự kiện của « nhiều giáo phận có số người lớn trở lại đạo rất thấp. Thí dụ năm 2007:

                       

Cả giáo phận Huế chỉ có 87 người lớn trở lại đạo, trong khi tổng số giáo dân là 67.780 người, 109 linh mục, 39 chủng sinh, 85 tu sĩ nam, 689 tu sĩ nữ, 722 giáo lý viên (x. Bảng Tổng kết các Giáo phận năm 2007, Bảng 20, tr. 46).

Giáo phận Bùi Chu có 411 người lớn trở lại đạo, trong khi có 388.013 tín hữu, 160 linh mục, 39 chủng sinh, 589 tu sĩ nữ, 3.255 giáo lý viên (x. Bảng Tổng kết các Giáo phận năm 2007, Bảng 20, tr. 46).


 

                       

Giáo phận TP.HCM có 651.046 tín hữu, 576 linh mục triều và dòng, 61 chủng sinh, 275 tu sinh, 945 tu sĩ nam, 3.110 tu sĩ nữ (chưa kể 560 tu sĩ thuộc tu hội), 5.243 giáo lý viên. Số người lớn được rửa tội cả năm là 7.623 người (x. Bảng Tổng kết các Giáo phận năm 2007, Bảng 20, tr. 46), đông nhất trong 26 giáo phận ».

 

Tiếp cận thứ hai so sánh « Tình trạng truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam » với tình trạng truyền giáo của Giáo Hội Tin Lành ở Việt Nam và với tình trạng truyền giáo ở Giáo Hội Hàn Quốc.

Nếu nhìn vào Giáo hội Tin Lành ở Việt Nam, năm 1999: số tín hữu là 400.000 người (x. Thống kê Quốc gia 1999, tr.133). Năm 2008: con số này đã lên tới 1.500.000 người. Như thế, số tín hữu tăng gần 4 lần trong vòng 10 năm. Đó mới chỉ là vài hệ phái chính, chưa kể các hệ phái khác như Pentecostist (Ngũ Tuần), Chứng nhân Yavê…

Nói đến thành công này, một số người giải thích rằng tại vì anh em Tin Lành có nhiều phương tiện như tiền bạc, thuốc men, phân phối sách Kinh Thánh, dạy Anh ngữ miễn phí… nên có thể giúp đỡ nhiều người và thu hút người khác theo đạo. Chúng ta không biết có phải đó là lý do chính yếu không hay còn những hoạt động tích cực nào khác cần phải tìm hiểu và học hỏi lẫn nhau? Nếu có dịp đến hớt tóc ở góc đường Kỳ Đồng gần Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, TP.HCM, chúng ta sẽ thấy những người thợ vừa hớt tóc vừa giảng đạo, dù rằng chúng ta không muốn nghe nhưng họ vẫn cứ nói. Ở Giáo xứ Chợ Đũi, Q.1, TP.HCM, nhóm Pentecostist mượn hội trường của giáo xứ để mỗi tuần tổ chức buổi họp mặt của nhóm. Nhìn những người tham gia nhóm hát với tất cả niềm hăng say ta mới thấy sức cuốn hút của những ai được Chúa Thánh Thần tác động.

Nếu nhìn vào Giáo hội Hàn Quốc, vào năm 1949, người Công giáo xuất phát cùng với anh em Tin Lành ở mức 1% dân số, đến năm 2005, tổng kết của Hàn Quốc: Công giáo là 9,1% và anh em Tin Lành là 26%. Chúng ta cần học bài học truyền giáo của anh em Hàn Quốc. Khi sang làm việc ở Việt Nam, nhóm Công giáo đã gặp gỡ nhau tại Giáo xứ Vườn Xoài. Họ lo lắng và tích cực truyền giáo không chỉ cho cộng đồng của họ mà còn truyền giáo cho những người Việt Nam, truyền giáo cho những thương gia Hàn Quốc đã sang đây làm việc. Chương trình của Giáo hội Hàn Quốc cách đây nhiều năm là mỗi gia đình Công giáo nhận đỡ đầu cho một gia đình không Công giáo, và họ quyết tâm là trong 5 năm phải tăng gấp đôi số người tín hữu. Họ đã hoàn thành điều này chỉ trong vòng 3 năm! Giáo hội Việt Nam sẽ có chương trình truyền giáo như thế không?

Qua hai tiếp cận là nhìn thẳng và so sánh, với bảy khía cạnh khác nhau, về « Tình trạng truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam » từ 1960 và đặc biệt là trong những năm 2000, cha Sơn đã tóm tắt bằng lời này : VIỆC TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM CÓ HIỆU QUẢ CHƯA CAO.

32. Những mục tiêu phát triển về phẩm và lượng cho việc truyền giáo tương lai

Bài nghiên cứu của linh mục Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trên 10 năm trời, với những số liệu khách quan, thu thập từ nhiều nguồn khác nhau đã mang lại cho các vị lãnh đạo Giáo Hội Việt Nam một nhận định tổng quát về « Tình trạng truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam » hiện nay. Tình trạng đó, nói theo cha Sơn, là « Việc truyền giáo tại Việt Nam có hiệu quả chưa cao », hay « thiếu hiệu quả ».

Dưới quan niệm quản trị, người ta thường thấy có ba nhóm tình trạng hiện tại và ba nhóm hướng tiến tương lai tương ứng. Nếu tình trạng hiện tại là chưa cao, thiếu khuyết, yếu kém thì hướng tiến tương lai là sửa chữa, cải tiến hay tăng trưởng ; nếu tình trạng hiện tại gặp một sự kiện mới thì hướng tiến tương lai là thích nghi, hòa hợp ; nếu tình trạng tương lai là tốt rồi, thì hướng tiến tương lai là tốt hơn, tốt nữa, tuyệt hảo (optimiser).

Cái nhận định rằng « tình trạng truyền giáo hiện tại ở Việt Nam có hiệu quả chưa cao, hay thiếu hiệu quả » có thể hiểu được hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là đã tốt rồi, do đó tương lai cần làm tốt hơn, cần đi về tuyệt hảo. Cụ thể, đó là điều hai số liệu về tỷ số công giáo trên toàn dân. « Năm 1960 : tổng số dân Việt Nam là 30.172.000. Công giáo là 2.094.540, chiếm tỷ lệ khoảng 6,93%. Năm 2007: tổng số dân Việt Nam là 85.154.900. Công giáo là 6.087.659, chiếm tỷ lệ 7,15% ». Như vậy, từ tỷ số 6.93% cho năm 1960 đến tỷ số 7.15% cho năm 2007, việc truyền giáo ở Việt Nam đã tốt rồi. Hướng tương lai, cứ thế mà tiến, nếu không hơn, thì ít nhất gắng giữ một tỷ số tiến triển là thêm 0.22% cho 40 năm sau. Cụ thể mục tiêu tương lai vào năm 2060 phải đạt tỷ số tối thiểu công giáo / toàn dân là 7.37%.

Nghĩa thứ hai là tốt chưa đủ, tương lai cần tốt hơn. Cụ thể đó là điều mà tiếp cận so sánh với việc truyền giáo của Giáo Hội Tin Lành ở Việt Nam và với việc truyền giáo của Giáo Hội Đại Hàn. Giáo Hội Tin lành ở Việt Nam, trong 10 năm, từ 1999 đến 2009, đã tăng số tín hữu từ 400.000 lên tới gần gấp 4 lần là 1.500.000 người. Trong khi đó, Giáo Hội Việt Nam chỉ tăng được 3 lần, từ 2.094.540 lên 6.087.659, sau 47 năm, 1960-2007. Giáo Hội Đại Hàn, vào năm 1949 chỉ chiếm tỷ số 1% công giáo/toàn dân ; vào năm 2005, tỷ số này đã tăng lên đến 9,1%. Tỷ số công giáo / toàn dân ở Đại Hàn đã tăng thêm +8,1% sau 56 năm. Trong khi đó, ở Việt Nam, tỷ số này, sau 47 năm, từ 1960 đến 2007, chỉ tăng thêm 0,22%. Như vậy, muốn bắt kịp nhịp tăng trưởng truyền giáo của Giáo Hội Tin Lành Việt Nam, Giáo Hội Việt Nam phải đạt số giáo hữu là (6.087.659 x 4=) 24.350.236 cho năm 2020. Và nếu muốn bắt kịp nhịp tăng trưởng truyền giáo của Giáo Hội Đại Hàn thì Giáo Hội Việt Nam phải đạt tỷ số công giáo/toàn dân là (7.15+8.10=) 15.25% vào năm 2070. Cả hai hướng tiến này đều không thực tế. Nếu trong 50 năm, số giáo dân Việt Nam chỉ tăng 3 lần, thì phép lạ nào sẽ đến để số giáo dân này sẽ tăng lên gấp 4 lần trong 10 năm ? Và nếu trong 50 năm, tỷ số công giáo / toàn dân ở Việt Nam chỉ tăng 0.22%, thì làm sao có thể tăng lên 8.10% sau 60 năm ?

Sau khi đã nhận ra tình trạng cụ thể của việc truyền giáo tại Việt Nam như trên, cha Sơn đã đưa ra mục tiêu nào và chương trình nào cho tương lai ? Trong phần 4 của bài nghiên cứu, ngài chỉ đề cập đến « Vài gợi ý để đổi mới công cuộc truyền giáo tại Việt Nam » : 1- Trở lại với Đức Kitô để cảm nghiệm được nội dung loan báo Tin Mừng là chính Đức Kitô ; 2- Trở lại với Đức Kitô để khám phá ra giá trị cao cả của người nghe Tin Mừng ; 3- Trở lại với Đức Giêsu Kitô để nhà truyền giáo trở thành hiện thân sống động của Người. Ba gợi ý này tương ứng với một trong ba « nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hiệu quả » mà cha Sơn đã phân tích ở phần ba : 1- Chưa có một nhận thức đầy đủ về việc loan báo Tin Mừng ; 2- Thiếu nền tảng Kitô học vững chắc ; 3- Thực trạng sống đạo chưa đáp ứng với yêu cầu của Tin Mừng.

Ba gợi ý mà cha Sơn đã gợi ra thuộc về chương trình ba công việc phải làm trong tương lai để làm tốt hơn việc truyền giáo. Nhưng cha Sơn không hề đả động gì đến mục tiêu mà việc truyền giáo phải đạt. Phần xác định tình huống hiện tại của việc truyền giáo thật là xuất sắc, vì có những dữ kiện số liệu cụ thể và đáng tin cậy. Với những dữ liệu này, cha Sơn đã nhận định rằng « Tình trạng truyền giáo hiện tại ở Việt Nam có hiệu quả chưa cao ». Với nhận định này, cha muốn nói gì về hiện tại và cho tương lai ? Muốn nói rằng kết quả hiện tại tương đối đã tốt, tương lai tiếp tục kết quả tốt ấy mà làm hoàn hảo hơn ? Hoàn hảo hơn theo nhịp nào : nhịp tiến triển tỷ số công giáo / toàn dân 0.22% cho 47 năm, nhanh hơn, chậm hơn ? Hay muốn nói rằng kết quả hiện tại còn thiếu chưa cao đủ, tương lai phải cải tiến kết quả cho tốt hơn ? Kết quả tốt hơn thế nào : số giáo dân tăng lên gấp 4 lần trong 10 năm, hay tỷ số công giáo / toàn dân tăng thêm 8.10% trong 56 năm sau ?

Bài nghiên cứu của cha Antôn Nguyễn Ngọc Sơn có thể gọi là bài nghiên cứu đầu tiên về việc truyền giáo ở Việt Nam có tính chất khoa học, do một người làm quản trị thực hiện, và dựa vào phương pháp quản trị. Bài nghiên cứu của ngài có nhận định hiện tình, có phân tích các nguyên nhân mạnh yếu đưa đến kết quả của hiện tình, có chương trình làm việc cho tương lai với những việc làm cụ thể. Tiếc rằng vì một lý do nào đó mà chúng ta chưa hiểu ra, bài nghiên cứu đã không đề cập đến mục tiêu phải tới, đến kết quả phải đạt. Có lẽ vì nhiệt tình với chương trình mời gọi mỗi người chúng ta trở lại với Đức Kitô đã làm ngài quên xác định mục đích của dự án truyền giáo mà ngài muốn gợi ra. Cũng có lẽ, vì theo ngài, đó chính là mục đích của việctruyền giáo, như ngài đã viết ở lời kết bài khảo luận rằng : « Khi suy nghĩ về hiệu quả truyền giáo ở Việt Nam trong những năm gần đây, chúng ta cùng cảm tạ Chúa vì những ơn lành Người ban cho Giáo hội Việt Nam. Dù kết quả truyền giáo chưa đạt được như lòng mong ước, chúng ta vẫn cảm nghiệm được sức sống mãnh liệt và niềm hăng say vô tận của người tín hữu Việt Nam muốn dấn thân cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Một vài dấu hiệu trình bày trong bài viết này chỉ nhằm mục đích mời gọi mỗi người chúng ta trở lại với Đức Kitô để gắn bó mật thiết với Người vì Đức Kitô chính là con đường dẫn ta và dân tộc đến sự thật toàn diện và sự sống vĩnh hằng ».

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, qua những tài liệu và phát biểu mới đây, trong dịp chuẩn bị và mừng Năm Thánh 2010, đã bày tỏ ý muốn tiến đến việc xây dựng một dự án và xác định cho giáo hội một hướng tiến tương lai.

Trong « Bản Nội Quy Cử hành Năm Thánh 2010 », phổ biến vào tháng 03/2008, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã xác định 3 mục tiêu cho Năm Thánh 2010, trong đó mục tiêu thứ ba là xác định hướng tiến ttương lai. Bản Nội Quy viết : « Đồng thời cũng nhìn tới tương lai trong bối cảnh văn hoá xã hội đang đổi thay của những thập niên đầu thiên niên kỷ III, nhằm vận động cộng đồng Dân Chúa một lòng quyết tâm đáp trả tình thương của Chúa, và làm mới hình ảnh gia đình Giáo Hội tại Việt Nam theo hình mẫu mà Công đồng Vatican II 1965 đã phác hoạ như sau :

                       

Giáo Hội hiệp thông: đào sâu mối hiệp thông giữa cộng đoàn tín hữu với Thiên Chúa trong Đức Kitô nhờ Chúa Thánh Thần, củng cố sự hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, trong mỗi Giáo Hội địa phương, hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương với nhau cũng như với Giáo Hội toàn cầu;

Giáo Hội tham gia: mọi thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, đều có quyền và trách nhiệm tham dự vào mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ của Giáo Hội, mỗi thành phần theo đặc sủng của mình;

Giáo Hội vì loài người: quyền bính và sứ vụ của Giáo Hội là quyền và trách nhiệm yêu thương và phục vụ cho sự sống của mọi người anh em đồng bào và đồng loại » (6).


 

Cũng trong chiều hướng ấy, trong « Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ », phổ biến vào tháng 10/2008, HĐGMVN đã nói rõ hơn về Năm Thánh 2010 như là « Thời điểm này mở ra cho các tín hữu Việt Nam một cơ hội thuận tiện để củng cố niềm tin của mình vào Thiên Chúa Tình yêu, để từ đó có thể cống hiến cho anh chị em của mình “kho tàng duy nhất và lớn lao nhất của mình là Đức Giêsu Kitô”. Và một hướng tiến truyền giáo đã được nhấn mạnh. Bản Đề cương viết ; « Cuối cùng, chúng ta cũng không quên rằng Thiên Chúa vẫn muốn những gì Ngài đã gieo trồng phải luôn tăng trưởng và sinh hoa kết quả. Ngài chăm sóc vun xới để cây vả sinh trái và cành nho trổ đầy quả ngon (x. Lc 13,6-9 ; Ga 15,5). Đây cũng là trách nhiệm của mỗi người chúng ta vì “điều làm Chúa Cha được tôn vinh là các con sinh nhiều hoa trái” (Ga 16,8) và “khốn thân tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9,16). Thời điểm ân sủng của Năm Thánh vì thế phải mang đậm nhiệt tình loan báo Tin Mừng. Các môn đệ Chúa Kitô tại Việt Nam nhận lãnh cùng một mệnh lệnh như các tông đồ ngày xưa “hãy ra khơi thả lưới” (Lc 5,4). Đức Tin phải được chia sẻ và Tin Mừng cứu độ phải được loan truyền đến cho mọi người. Sứ mạng này hôm nay chúng ta cùng đảm nhận và thực thi chính trên quê hương đất nước mình, ngay trong môi trường văn hoá Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa là khi lịch sử và xã hội biến đổi, đức tin phải được chia sẻ một cách mới mẻ, với những hình thức mới, theo những phương pháp mới, và do những con người mới. Thời gian ân sủng này như thế cũng là thời điểm canh tân sứ vụ mà Giáo Hội tại Việt Nam đã nhận lãnh từ nơi Chúa » (7).

Ủy Ban Ban Loan Báo Tin Mừng của HĐGMVN, trong hội thảo về chủ đề “Người thừa sai trên cánh đồng sứ vụ” từ ngày 23 đến ngày 25.03.2009, tại Trung Tâm Văn Hoá Đức Tin Công Giáo Sài Gòn, với sự tham dự của các linh mục trưởng ban Loan Báo Tin Mừng thuộc 26 Giáo phận, đại diện Hội Thừa Sai Việt Nam, đại diện các Dòng Tu cũng như một số anh chị em giáo dân đang phục vụ trên cánh đồng truyền giáo, đã đưa ra một tổ chức Loan Báo Tin Mừng ở ba cấp độ : cấp gia đình, giáo xứ, cấp giáo phận và cấp toàn quốc. Ủy Ban đã đưa ra chương trình “Người người Tân Ước, nhà nhà Kinh Thánh” (8).

Qua ba tài liệu này, HĐGMVN muốn theo chân các bậc tiền nhân trong hai thời kỳ Bảo Trợ và Tông Tòa, đã xác định một mục tiêu tổng quát cho việc truyền giáo trong tương lai. Mục tiêu đó đã được nêu rõ trong Bản Đề Cương, ở số 1 rằng : « Đức Tin phải được chia sẻ và Tin Mừng cứu độ phải được loan truyền đến cho mọi người. Sứ mạng này hôm nay chúng ta cùng đảm nhận và thực thi chính trên quê hương đất nước mình, ngay trong môi trường văn hoá Việt Nam ».

Mục tiêu này đã được xác định rõ về phẩm trong Bản Nội Quy cử hành Năm Thánh 2010 ở khoản 2. Người giáo hữu việt nam sẽ là người giáo hữu hiệp thông, tham gia và vì loài người. Nói khác đi, nếu dùng ngôn ngữ của hai dự án thời Bảo Trợ và Tông Tỏa, thì mục tiêu phẩm chất của giáo hữu, tân tòng cũng như gia truyền, là vừa có tinh thần hiệp nhất và yêu thương, vừa can trường tuyên xưng đức tin, lại vừa làm việc truyền giáo cho người đồng bào Việt Nam.

Mục tiêu này, ở giai đoạn thiết kế hiện nay, chưa được xác định về lượng. Chắc chắn ai cũng muốn cho số lượng người công giáo tăng thêm. Vấn đề là tăng đến mức nào ? Có lẽ các bậc hữu trách đã có một ý tưởng, nhưng chưa tiện tuyên bố. Cũng có lẽ các ngài muốn bắt chước sự kín đáo của các bậc tiền nhân, mà sẽ không tuyên bố công khai.

LỜI KẾT

Công việc tìm tòi, phân tích thẩm lượng, và đề nghị mà chúng tôi đang mạo muội thực hiện qua loạt bài « Mừng Năm Thánh 2010, xem lịch sử Truyền Giáo Việt Nam » đang được một số bạn đọc theo dõi và khuyến khích. Một trong những vị đó là linh mục thi sĩ Cung Chi Đinh Đồng Thượng Sách. Thành viên Ban Giám Đốc Giáo Xứ Việt Nam Paris, ngài đặc biệt trách nhiệm về mục vụ Giới trẻ và Văn Hóa. Ngay từ năm 1977, khi mới về làm việc tại giáo xứ, ngài đã có sáng kiến muốn lập cho giáo xứ một thư viện. Sau 32 năm trì chí và làm việc, ngày nay thư viện giáo xứ đã có gần 10 000 đầu sách, trong đó kho sách công giáo, quốc ngữ và hán nôm, rất dồi dào, đã giúp nhiều nhà nghiên cứu đến từ khắp nơi. Là một trong những độc giả trung thành của thư viện, tôi được cha Cung Chi ưu ái cho mượn nhiều sách quý.

Theo dõi loạt bài « Mừng Năm Thánh 2010, xem lịch sử Truyền Giáo Việt Nam », cha Cung Chi đã đôi lần khích lệ tôi. Tối thứ hai, 28/12/09 vừa qua, ngài đọc cho tôi một bài thơ ngài mới vừa sáng tác và cho phép tôi tùy nghi dùng làm mở bài hay kết bài. Xin đa tạ cha Cung Chi.

Ơn Chúa nhiệm mầu, ý bài thơ, nhất là bốn câu chót, rất hợp để kết luận bài « Đề nghị lập một dự án truyền giáo có mục tiêu rõ rệt về phẩm và lượng cho những năm đầu thế kỷ XXI ». Ý và lời thơ rất đẹp của cha Cung Chi rất hợp với mong ước thô thiển của tôi, là « Giáo hữu việt nam ngày nay vẫn phải tiếp tục và thăng tiến công việc truyền giáo, để khỏi phụ ơn các bậc tiền nhân khi xưa, hầu dâng về cho Chúa, Vua các vua, niềm tin có hương sắc Việt Nam ».

HƯƠNG LÚA NĂM CHÂU

Nhìn về Giáo Hội Việt Nam nhà,

Chúng con hạt thóc vãi phương xa,

Dậy trong huyết quản men mầu đạo,

Say sưa tim đập nhịp ông cha.

Nhớ sao từ thủa phút ban đầu,

Thánh giá ngoài khơi dấu nhiệm mầu,

Đón bước truân chuyên chân truyền giáo,

Vào từng thửa ruộng luống cầy sâu.

Thế rồi Đất Nước cả ba miền,

Thấm dần « Đại Đạo xuất ư thiên »,

Bằng máu, mồ hôi, chan nước mắt,

Cho cây cải nhỏ được vươn lên.

Ngót năm thế kỷ để ngày nay,

Góp mặt anh em thế giới này,

Với hàng phẩm trật đủ chiều kích,

Trăm ngàn tử đạo vững nền xây.

Ô hô đồng lúa vẫn đương mùa !

Ngày nay chả nhẽ phụ ngày xưa !

Năm châu, lúa mới thơm hương Việt,

Tỏa bay trước Chúa, Vua muôn vua.

CUNG CHI

Paris, 350 năm 1659-2009, thành lập hai GPTT đầu tiên

Và 50 năm 1960-2010, thiết lập HGPCGVN.

Paris, ngày 31/12/2009

 

Trần Văn Cảnh

 

Chú thích :

(1). HĐGMVN, Nội quy cử hành Năm Thánh 2010, số 2

http://www.hdgmvietnam.org/News.aspx?Type=6&Act=Detail&ID=72&CateID=83

(2). ĐGH Alexandre VII, Sắc lệnh « Super Cathedram » ngày 09/09/1659. Xem Trần Văn Cảnh : Sắc Chỉ « SUPER CATHEDRAM » Ngày 09.09.1659, Vietcatholic news ;

http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=73869

(3). Thánh Bộ Truyền Giáo, Chỉ thị truyền giáo « Instructio vicariorum apostolicorum ad regna Sinarum, Tonchini et Cocincinae profiscentium” ngày 10/11/1659. Xem Trần Văn Cảnh : Thừa sai hải ngoại Paris: Các Giám Mục chuẩn bị đi Đàng Trong và Đàng Ngoài, Vietcatholic news ; http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=51421

(4). Công Ðồng Thừa Sai Hải Ngoại Paris / Đc Pallu và Dc Lambert de la Motte, Chỉ dẫn các thừa sai « Monita ad Missionarios » 1664. Xem Trần Văn Cảnh : Thừa Sai Hải ngoại Paris: Công đồng thừa sai hải ngoại đầu tiên năm 1664 ở thủ đô Ayuthia nước Xiêm, Vietcatholic news ; http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=52218

(5). Lm Antôn NGUYỄN NGỌC SƠN, « Hiệu quả truyền giáo ở Việt Nam trong những năm gần đây - Nghi vấn và giải thích », VietCatholic News, ngày 03 tháng 03 năm 2009

http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=64757

(6). HĐGMVN, Nội quy cử hành Năm Thánh 2010, số 2

http://www.hdgmvietnam.org/News.aspx?Type=6&Act=Detail&ID=72&CateID=83

(7). HĐGMVN, Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ », phổ biến vào tháng 10/2008, http://www.hdgmvietnam.org/News.aspx?Type=6&Act=Detail&ID=212&CateID=83

(8). HĐGMVN-UBLBTM, (http://www.hdgmvietnam.org/News.aspx?Type=8&Act=Detail&ID=256&CateID=63).

 


Mục Lục Năm Thánh Giáo Hội VN 2010