CHIỀU KÍCH MẦU NHIỆM CỦA GIÁO HỘI

Tham luận của ĐGM Giuse Nguyễn Năng, GP. Phát Diệm: Chiều kích mầu nhiệm của Giáo hội

Giáo hội mầu nhiệm là ý niệm chìa khoá đã được Công đồng Vaticanô II đặt làm nền tảng cho toàn bộ giáo hội học. Quả vậy, chương đầu tiên của Hiến chế Tín lý về Giáo hội, Lumen Gentium, đã bàn về mầu nhiệm Giáo hội như một định hướng cho mọi khai triển về đời sống và sứ vụ của Giáo hội. Đại hội Dân Chúa muốn suy tư về đời sống và sứ vụ của Giáo hội tại Việt Nam cũng không thể đi ra ngoài định hướng cơ bản ấy. Bài trình bày này sẽ quảng diễn đề tài trên bình diện thần học, đồng thời cũng nêu lên một ít gợi ý trên bình diện mục vụ để suy tư và thảo luận.

I.      GIÁO HỘI, MỘT THỰC TẠI PHỨC HỢP

Từ ngữ “mầu nhiệm” áp dụng vào Giáo hội không chỉ có nghĩa là bí ẩn, khó hiểu. Dĩ nhiên, Kitô giáo có những mầu nhiệm. Nội dung giáo lý Kitô giáo sẽ không thể đánh động, lôi cuốn chúng ta và làm cho chúng ta say mê, nếu trong đó không có những mầu nhiệm. Tuy nhiên từ ngữ “mầu nhiệm” ở đây muốn nói rằng Giáo hội “là một thực tại phức hợp, duy nhất, do yếu tố nhân loại và thần linh kết thành”[1].

Hiến chế tín lý về Giáo hội giải thích như sau: cùng một lúc, “Giáo hội là xã hội tổ chức theo phẩm trật và là Nhiệm Thể Đức Kitô, là đoàn thể hữu hình và là cộng đoàn thiêng liêng, là Giáo hội tại thế và là Giáo hội dư tràn của cải trên trời[2].

Đã có lúc người ta nghiêng về quan niệm Giáo hội như một xã hội theo kiểu nhân loại, một societas, quá chú trọng đến những yếu tố hữu hình để chống lại quan niệm Giáo hội vô hình. Cũng có lúc quan niệm thần bí thắng thế, nhìn Giáo hội như là một sự nối dài của mầu nhiệm Nhập thể và dường như đồng hoá Giáo hội với Đức Kitô. Thực ra, Giáo hội chỉ là một thực tại duy nhất vừa có yếu tố nhân loại vừa có yếu tố thần linh[3].

Cấu trúc thần linh và nhân loại, vô hình và hữu hình, của Giáo hội dựa trên nền tảng Kitô học. Giáo hội được sánh ví với mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể vì cả hai vừa có yếu tố thần linh vừa có yếu tố nhân loại. Tuy nhiên, trong khi Ngôi Lời nhập thể trong một nhân tính, thì Chúa Thánh Thần không nhập thể trong Giáo hội. Và Giáo hội cũng không phải là nhân tính phục vụ cho Ngôi Lời. Trái lại, Giáo hội là cơ cấu xã hội gồm những ngôi vị là các Kitô hữu phục vụ cho Thánh Thần của Đức Kitô, Đấng làm cho Giáo hội sống động để tăng triển Thân thể[4]. Cũng như Đức Kitô là Đầu đã sống nhờ Chúa Thánh Thần thế nào, Giáo hội là Thân thể cũng sống nhờ Chúa Thánh Thần như thế. Do đó, Giáo hội không phải là một xã hội hoàn toàn nhân loại, nhưng cũng không phải là nối dài mầu nhiệm nhập thể của Đức Giêsu, mà là nối dài mầu nhiệm Đức Kitô được xức dầu Thánh Thần.

Như vậy, Giáo hội là một dân tộc, nhưng lại là dân của Thiên Chúa, và đồng thời cũng là Thân thể của Đức Kitô và là Đền thờ của Chúa Thánh Thần. Không thể chia cắt các khía cạnh phong phú đó của thực tại Giáo hội.

Những khẳng định trên đây xem ra có tính lý thuyết, nhưng lại quan trọng vì là những nguyên lý nền tảng của đời sống Giáo hội. Bao nhiêu vấn đề phức tạp xuất hiện trong lịch sử Giáo hội có lẽ đều bắt nguồn từ chỗ chưa lưu tâm đúng mức đến chiều kích mầu nhiệm này.

Có lúc người ta muốn thần thánh hoá Giáo hội, đồng hoá Giáo hội với chính Đức Kitô, đến độ có nguy cơ quên rằng Giáo hội là Dân Thiên Chúa còn đang lữ hành trong lịch sử. Không được lý tưởng hoá Giáo hội, không được quàng cho Giáo hội một vòng triều thiên giả tạo. Trong Giáo hội có những có những giới hạn, có những bất toàn và tội lỗi. Chân lý Tin Mừng đã được ban cho Giáo hội, nhưng các thành phần Dân Chúa còn đang từng ngày lần mò tìm kiếm để làm cho chân lý ấy thấm nhập vào mọi thực tại nhân sinh. Lãng quên khía cạnh nhân loại sẽ đưa tới thái độ tự cao đắc thắng và tạo nên cản trở cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Đó chính là điều Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã nhắc nhở trong tông huấn Giáo hội tại châu Á: “Môn đệ Đức Kitô phải có tấm lòng hiền lành và khiêm nhường của Thầy mình, không bao giờ tỏ ra kiêu căng, không bao giờ có thái độ hạ cố của kẻ cả”[5]. Giáo hội không tìm cách thống trị, không tìm kiếm vinh quang trần thế, nhưng sống tinh thần phục vụ trong khiêm nhường và từ bỏ theo gương Đức Giêsu[6].

Ngược lại, cũng nhiều khi người ta quan niệm Giáo hội như một xã hội qui tụ những con người cùng một niềm tin tôn giáo, một tập thể xã hội như bao nhiêu tập thể khác, không hơn không kém. Thực ra, Giáo hội ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Giáo hội không đi trên con đường của những cộng đoàn tự nhiên như gia đình, dân tộc, quốc gia, nhưng có con đường riêng của mình. Chính trị hoá Giáo hội là một sai lầm và sẽ đưa Giáo hội đi vào ngõ cụt. Giáo hội có lý do tồn hữu riêng, mục đích riêng, những tiêu chuẩn biện phân riêng, và những phương thế riêng của mình. Trong mọi thời đại và ở mọi nơi, đời sống và hoạt động của Giáo hội luôn phải quy chiếu về tiêu chuẩn uyên nguyên là Tin Mừng của Đức Giêsu.

II.      CÁC KHÍA CẠNH KHÁC NHAU CỦA GIÁO HỘI MẦU NHIỆM

Từ nội dung căn bản trên, chiều kích mầu nhiệm của Giáo hội có thể được nhận ra qua các khía cạnh sau đây.

1)   Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo hội

Giáo hội được Đức Kitô sai đi để nối tiếp công cuộc cứu thế của Người: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21). Và để thực hiện sứ mạng này, Người đã thổi hơi để ban Thần Khí của Người cho Giáo hội (x. Ga 20, 22). “Cũng cùng một Đấng duy nhất hiện hữu nơi Đầu cũng như trong các chi thể[7].

Như vậy, Giáo hội sống bằng Thánh Thần của Đức Kitô. Chính Chúa Thánh Thần được ví như là “linh hồn” của Giáo hội[8], là Đấng khởi xướng mọi hoạt động trong Giáo hội, còn Giáo hội là tôi tớ phục vụ Ngài[9].

Thánh Thần hoạt động nơi Giáo hội bằng cách ban ân sủng cho tất cả các Kitô hữu là những người đã lãnh nhận phép rửa, mỗi người nhận được “ân huệ tuỳ theo ý Ngài” (1Cr 12, 11). Chúa Thánh Thần là Đấng tự do tuyệt đối: “Gió muốn thổi đâu thì thổi” (Ga 3, 8). Lịch sử Giáo hội cho thấy các đoàn sủng do Thánh Thần tác động đã đem lại sự canh tân và sức sống cho Giáo hội. Đoàn sủng thì đa dạng, “từ những ơn phi thường đến những ơn bình thường”, nhưng tất cả đều do cùng một Thần Khí để các Kitô hữu “đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân và phát triển Giáo hội”. Giáo hội tại Việt Nam hôm nay cũng cần rộng mở để “đón nhận ân sủng Thánh Thần với lòng tri ân[10].

Trong các ân huệ của Thánh Thần, ân sủng ban cho các Tông đồ đứng hàng đầu: chính Chúa Thánh Thần đặt dưới quyền các ngài cả những người lãnh nhận các đoàn sủng (x. 1 Cr 14)[11]. Vì thế, phẩm trật trong Giáo hội chính là dấu chỉ hữu hình nơi đó Thánh Thần của Đức Kitô hoạt động đặc biệt. Thừa tác vụ tông đồ và quản trị không phải là một định chế nhân loại, nhưng là thiết định của Đức Kitô và là đặc sủng của Thánh Thần (x. 1Cr 12, 28). Các mục tử trong Giáo hội là “thừa tác viên của Đức Kitô” để “phục vụ Chúa Thánh Thần[12]; các ngài sẽ không dập tắt Thần Khí, trái lại, có nhiệm vụ biện phân để phán quyết đâu là đoàn sủng thực sự của Thánh Thần[13].

Như vậy, cũng cùng một Thánh Thần duy nhất là tác giả của phẩm trật cũng như của đoàn sủng, nhờ đó Ngài dẫn dắt Giáo hội[14]. Cả đoàn sủng lẫn phẩm trật đều là ân sủng và sứ mệnh, là ơn gọi và phục vụ. Nếu đặt nặng định chế cùng với những cơ cấu, luật lệ và quyền bính, Giáo hội sẽ trở thành nặng nề, không sức sống. Ngược lại, nếu quá đề cao đoàn sủng vô hình cùng với tự do cá nhân mà không có điểm qui chiếu hữu hình, thì Giáo hội cũng dễ rơi vào xáo trộn và chia rẽ.

Cần có đức tin để nhận ra quyền năng của Thần Khí nơi các hoạt động của những con người trong Giáo hội. Đức tin giúp ta đọc lịch sử Giáo hội với lăng kính “mầu nhiệm”. Qua những thăng trầm của lịch sử loan báo Tin Mừng, Giáo hội tại Việt Nam đang từng bước tiến lên dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. Có những bước chậm chạp làm cho những người nhiệt tình phải bức xúc. Có những khai phá làm cho nhiều người ngần ngại e dè. Những quyết định và hành động trong Giáo hội là của những con người sống vào một thời điểm cụ thể, với những khả năng và nhận thức giới hạn. Nhưng họ không quyết định và hành động một mình, trái lại, như lời sách Công vụ tông đồ, “Thánh Thần và chúng tôi quyết định ” (15, 28).

Chúa Thánh Thần là Đấng dẫn dắt Giáo hội. Những trì trệ và khô cằn trong đời sống Giáo hội là do các thành phần Dân Chúa chưa ý thức đủ về vai trò của Thần Khí để vâng phục sự dẫn dắt của Ngài. Trong những năm gần đây, những khoá cầu nguyện, những tuần tĩnh tâm hoặc linh thao ngày càng có nhiều người tham dự, nhất là anh chị em giáo dân. Càng ngày các tín hữu càng cảm thấy khao khát được sống với Chúa Giêsu để học lắng nghe Thánh Thần. Đó là tín hiệu mùa xuân mới của Giáo hội tại Việt Nam.

2)   Giáo hội sống bằng sự sống của Thiên Chúa

Giáo hội là Nhiệm Thể Đức Kitô, nên sự sống của Giáo hội là sự sống siêu nhiên. Giáo hội sống và tăng trưởng nhờ đón nhận sự sống của Thiên Chúa được ban tặng qua Đức Giêsu trong Chúa Thánh Thần.

Chiều kích mầu nhiệm của Giáo hội được thể hiện qua việc cử hành phụng vụ. Qua các yếu tố hữu hình như các dấu chỉ và nghi thức của các thừa tác viên Giáo hội, Đấng vô hình là “Chúa Thánh Thần hoạt động trong lòng Giáo hội để chúng ta sống bằng sự sống của Ðức Kitô phục sinh. … Phụng vụ là công trình chung của Chúa Thánh Thần và Giáo hội[15].

Chúa Thánh Thần gợi nhớ mầu nhiệm Đức Kitô: “Qua các lời, các hành động và biểu tượng, dệt thành việc cử hành phụng vụ, Chúa Thánh Thần đưa các tín hữu và các thừa tác viên vào trong tương quan sống động với Đức Kitô[16] để họ sống những những điều được cử hành trong phụng vụ. Hơn nữa, phụng vụ không chỉ gợi nhớ các biến cố cứu độ, “mà còn làm cho những biến cố đó hiện diện và tác động trong hiện tại. Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô đựơc cử hành chứ không phải được tái diễn... Chúa Thánh Thần làm cho mầu nhiệm duy nhất được hiện tại hoá[17].

Nhờ Thánh Thần, chính Đức Kitô hiện diện trong Giáo hội, đặc biệt trong Lời của Người và trong bí tích Thánh Thể[18]. Đây chính là lương thực thần linh nuôi sống Giáo hội. Nếu không dùng lương thực này, Giáo hội sẽ chết. Nếu hấp thụ lương thực khác, Giáo hội sẽ ngộ độc.

Các tín hữu “sống không chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn nhờ mọi lời Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4). “Chúa Thánh Thần làm cho người đọc cũng như người nghe Sách Thánh hiểu được ý nghĩa thiêng liêng của Lời Chúa, tùy theo việc họ chuẩn bị tâm hồn[19]. Lời Chúa là ánh sáng, niềm vui, sức mạnh và sự sống cho họ. Lời Chúa đã qui tụ và nối kết họ trong cùng một đức tin. Chính Tin Mừng đã biến đổi cuộc đời của họ và thúc đẩy họ gieo men Tin Mừng vào các thực tại xã hội.

Vấn đề khẩn thiết được đặt ra hôm nay cho Giáo hội tại Việt Nam là làm thế nào để giúp mọi tín hữu yêu mến Lời Chúa, học hỏi và sống Lời Chúa. Các mục tử cần đầu tư nhiều hơn vào việc bồi dưỡng đức tin cho giáo dân để họ có thể sống đạo một cách trưởng thành, với một đức tin sáng suốt và một xác tín cá nhân mạnh mẽ.

Nếu trong quá khứ một đức tin đơn thành, một niềm xác tín của người đơn sơ bé mọn, có thể đủ để nuôi sống các Kitô hữu, thì trong môi trường xã hội hôm nay, một đức tin như thế vẫn cần thiết nhưng không đủ để đứng vững trước ảnh hưởng của nền văn hoá hiện đại. Cũng như nhiều quốc gia khác, xã hội Việt Nam hôm nay cũng đang trên đà tục hoá, dửng dưng với tôn giáo và các giá trị đạo đức. Do đó, các tín hữu Việt Nam cần được đào tạo để trở thành môn đệ thực sự sống Tin Mừng của Đức Kitô.

Điều đáng mừng là trong những năm gần đây, các chương trình học hỏi Lời Chúa và giáo lý đã được canh tân và đã thu hút một số đông tham dự, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên còn nhiều việc phải làm để việc học hỏi Lời Chúa và giáo lý trở thành niềm vui và sinh hoạt thường xuyên của mọi thành phần và mọi lứa tuổi.

Cùng với Lời Chúa, Giáo hội còn được thông phần sự sống của Đức Kitô nhờ các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể. Ecclesia de Eucharistia: Giáo hội hiện hữu nhờ Thánh Thể, sống nhờ Thánh Thể và phục vụ theo khuôn mẫu Thánh Thể. Ai dự tiệc Thánh Thể sẽ được sống (x. Ga 6, 57). “Sự hiệp thông Thánh Thể làm cho Đức Kitô và môn đệ của Người lưu lại trong nhau”. Hơn nữa, “khi hiệp nhất với Đức Kitô, Dân của Giao ước mới không khép kín lại nhưng trở thành «bí tích» cho nhân loại, thành dấu hiệu và dụng cụ của ơn cứu độ được Đức Kitô ban cho, thành ánh sáng thế gian (x. Mt 5,13-16) để cứu rỗi mọi người”[20].

Những chân lý này không phải là lý thuyết, nhưng đã được chứng nghiệm bằng chính cuộc sống của các cá nhân cũng như cộng đoàn Kitô hữu Việt Nam qua các thời kỳ. Quả vậy, làm sao có thể lý giải được sự tồn tại và trưởng thành của Giáo hội tại Việt Nam nếu không tin rằng có một sức sống thần thiêng đã nuôi dưỡng bao nhiêu thế hệ Kitô hữu. Cộng đoàn tín hữu chỉ là “đoàn chiên nhỏ bé”, không trình độ, không giàu có, không địa vị, nhiều thời kỳ còn chịu biết bao bách hại và bị loại trừ, nhưng vẫn sống đức tin vững vàng và tràn trề niềm hy vọng Phục sinh. Người Kitô hữu Việt Nam yêu mến thánh lễ, siêng năng tham dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Ngay trong cảnh cô đơn của ngục tù, trong đau đớn của thể xác bị tra tấn, con cái Giáo hội vẫn sống nhờ “năm chiếc bánh và hai con cá”, nhờ “ba giọt rượu và một giọt nước được cử hành mỗi ngày trong lòng bàn tay. Đó là bàn thờ của tôi, là nhà thờ chính toà của tôi. Thánh lễ là phương dược chữa xác cứu hồn, là thang thuốc trường sinh bất tử” (Kinh nghiệm của vị Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận).

Tuy nhiên, nhìn vào thực tế của các buổi cử hành phụng vụ tại các nhà thờ Việt Nam hiện nay, có lẽ ai cũng thấy một vấn đề cấp bách được đặt ra, đó là cần canh tân phụng vụ để các tín hữu thực sự được nuôi sống bằng lương thực thần linh. Việc canh tân không chỉ dừng lại ở bình diện nghi thức, nhưng phải làm sao để hơi thở sự sống của Chúa Thánh Thần thấm vào hồn người cử hành cũng như người tham dự. Nếu không có Thánh Thần, Phúc Âm chỉ là chữ viết vô hồn, phụng vụ chỉ là nghi thức hồi tưởng. Nhưng nếu có Thánh Thần, Phúc Âm mới là Lời sự sống, và phụng vụ sẽ là cuộc gặp gỡ và kết hợp với Đức Kitô phục sinh.

3)   Giáo hội thánh thiện của các tội nhân

Một khía cạnh khác của chiều kích mầu nhiệm là sự thánh thiện của Giáo hội. Trong kinh Tin Kính, Giáo hội được tuyên xưng là thánh thiện. Nhưng trong thực tế, các tín hữu lại là những tội nhân. Có người nói: “Giáo hội thánh thiện của các tội nhân”. Thực ra, Giáo hội thánh thiện là đối tượng của đức tin: “Tôi tin Giáo hội thánh thiện”. Sự thánh thiện của Giáo hội không phải là kết luận của một cuộc thống kê mang tính xã hội học, nhưng là một lời tuyên xưng, không dựa trên yếu tố hữu hình, nhưng dựa vào chính Thiên Chúa.

Quả vậy, Giáo hội là thánh, vì Đức Kitô “đã yêu thương Giáo hội như Hiền thê mình và đã hiến thân để thánh hoá Giáo hội. Người đã kết hợp Giáo hội với Người như thân thể mình và ban cho Giáo hội đầy tràn Thánh Thần[21]. Ngoài ra, Giáo hội là thánh vì được trang bị các phương tiện để thánh hoá thế gian. “Sự thánh thiện này là bất khả khuyết[22].

Chân lý trên có lẽ không một tín hữu nào phủ nhận. Nhưng vấn đề đặt ra là ở bình diện những con người mang danh môn đệ Đức Kitô. Các Kitô hữu đã lãnh nhận phép Rửa, nên “thực sự trở nên con cái Thiên Chúa và được thông phần vào bản tính thần linh, và do đó, thật sự đã trở nên thánh[23]. Sự hiện diện của Thánh Thần tình yêu trong tâm hồn các môn đệ chính là nguyên lý và động lực của sự thánh thiện nơi Giáo hội[24]. Tuy nhiên, không một Kitô hữu nào không có tội. Đó là một thực tế không thể chối cãi.

Thật ra sự thánh thiện của Giáo hội không phải là một tình trạng tĩnh, nhưng là một tiến trình liên tục trở về hiệp thông với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu và trong Thánh Thần. Giáo hội là thánh không những vì Giáo hội là cộng đoàn các thánh nhờ ân sủng thánh hoá của bí tích rửa tội, hay vì các Kitô hữu đã không hề phạm tội và đã sống các nhân đức Kitô giáo cách tuyệt hảo như Đức Trinh Nữ Maria Vô nhiễm, nhưng Giáo hội còn là thánh vì là cộng đoàn các Kitô hữu không ngừng quyết tâm không phạm tội nữa, đó là cộng đoàn biết hoán cải vì đã phạm tội. Chỉ “Đức Kitô là thánh thiện, vô tội, tinh tuyền, không hề phạm tội, chỉ đến để đền tội lỗi dân chúng, còn Giáo hội, vì ôm ấp những kẻ có tội trong lòng, nên vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh tẩy mình. Do đó Giáo hội luôn thực hiện việc sám hối và canh tân[25].

Sự thánh thiện của Giáo hội mang đặc tính cánh chung của ơn cứu chuộc. Giáo hội còn đang lữ hành, nên sự thánh thiện của Giáo hội có tính biện chứng giữa rồi và chưa, giữa quá khứ và tương lai. Giáo hội không ngừng quay lưng lại với quá khứ tội lỗi để hướng về tương lai thánh thiện, cho tới khi nào, nhờ ân sủng tối hậu của Thiên Chúa, Giáo hội hoàn toàn dứt bỏ được quá khứ tội lỗi ấy, và bấy giờ tương lai thánh thiện vẫn mong chờ sẽ trở thành hiện tại vĩnh cửu không hề mất.

Hơn nữa, sự thánh thiện của Giáo hội trước hết là một quà tặng của Thiên Chúa. Giáo hội không thánh thiện do tự mình. Yếu tố tiên quyết của sự thánh thiện tuỳ thuộc vào tác động cứu chuộc của Thiên Chúa chứ không phải ở thái độ của con người. Ấn tín rửa tội chính là một ân huệ của Thiên Chúa, và ấn tín ấy luôn tồn tại bất chấp sự bất trung của con người. Khi tuyên xưng Giáo hội là thánh thiện, cho dù thực tế có muôn ngàn tội lỗi trong Giáo hội, ta muốn công bố rằng tình thương của Thiên Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết. Thiên Chúa không ngừng tỏ lộ tình yêu cứu độ bất chấp tất cả những yếu hèn của con người, không ngừng đón nhận đứa con hoang đàng trở về để thánh hoá và đổi mới nó. Ngài không quản ngại dùng những bàn tay dơ bẩn bất xứng của con người để đón nhận tình yêu của Ngài được ban cho ta nhờ Thánh Thần.

Do đó, “Giáo hội trên mặt đất đã được trang điểm bằng sự thánh thiện đích thực, tuy chưa hoàn toàn[26]. Người Kitô hữu cần xác tín về chân lý này để không bao giờ thất vọng hoặc mặc cảm trước thực tế đôi khi rất đau lòng đang từng ngày diễn ra nhiều nơi trong lòng Giáo hội. Hơn nữa, xác tín ấy chính là lời mời gọi mọi thành phần Dân Chúa nỗ lực nên thánh để góp phần làm cho Hiền thê của Đức Kitô ngày càng “xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5, 27). Thế giới càng có nhiều tội lỗi, các Kitô hữu càng cần giữ phẩm chất muối và ánh sáng của Đức Kitô thì mới có thể chu toàn sứ mạng thánh hoá thế giới. Ưu tiên hàng đầu của các Kitô hữu tại Việt Nam phải là nên thánh, là “trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và trở nên những người con vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà, sa đoạ. Giữa thế hệ đó, [chúng ta] phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2, 15).

Tuy nhiên, Giáo hội luôn noi gương Đức Kitô, Đấng Thánh của Thiên Chúa, đã chia sẻ kiếp sống khốn cùng của con người và đã mang lấy tội lỗi của nhân loại. Người không cho lửa từ trời thiêu đốt những kẻ bất xứng (x. Lc 9, 51-55), không cho phép nhổ cỏ lùng trong ruộng lúa (x. Mt 13, 24-30). Thánh thiện cũng chính là khả năng chịu đựng, nâng đỡ và gánh vác nhau. Niềm mơ ước một thế giới toàn vẹn có thể làm con người trở thành nhẫn tâm và cứng cỏi với người khác. Lòng nhân từ của Giáo hội phải là quê hương và niềm hy vọng cho nhân loại.

Kết luận

Tính cách mầu nhiệm của Giáo hội quả là một nghịch lý. Thực ra không phải thực tại Giáo hội tạo nên sự phức tạp, nhưng là chính Đức Kitô, Con Thiên Chúa đã trở nên con người hữu hạn. Nhưng nói cho cùng, cũng không phải Đức Kitô tạo nên vấn đề, nhưng là chính Thiên Chúa, Đấng siêu phàm vượt trên mọi tư tưởng và đường lối của con người. Ai thực sự tin vào Thiên Chúa thì cũng tin vào Đức Kitô, và ai tin Đức Kitô của Tin Mừng thì cũng chấp nhận tất cả sự phức tạp trong đặc tính thần nhân của Giáo hội.

 

     + Giuse Nguyễn Năng

Giám mục giáo phận Phát Diệm

 

 


Mục Lục Năm Thánh Giáo Hội VN 2010



[1] GH (Hiến chế tín lý về Giáo hội Lumen Gentium) 8a.

[2] ibid.

[3] x. PV (Hiến chế Phụng vụ) 1.

[4] x. GH 8a

[5] Gioan-Phaolô II, EiA (Giáo hội tại châu Á, Ecclesia in Asia) 31.

[6] x. GH 8c.

[7] GH 7h.

[8] ibid.

[9] x. GH 8a.

[10] GH 12b.

[11] GH 7c.

[12] GH 21.

[13] x. GH 12b.

[14] x. GH 4.

[15] GLHTCG (Giáo lý Hội thánh Công giáo) 1091.

[16] GLHTCG 1101.

[17] GLHTCG 1104.

[18] x. PV 7; GLHTCG 1088.

[19] GLHTCG 1101.

[20] GHTT (Giáo hội sống nhờ Thánh Thể, Ecclesia de Eucharistia) 22.

[21] GH 39.

[22] ibid.

[23] GH 40.

[24] x. ibid.

[25] GH 8c.

[26] GH 48c.