BÌNH AN DƯỚI THẾ

 

Như vậy là Đại Hội Dân Chúa Giáo Hội Việt Nam đã bế mạc. Giờ nầy các đại biểu ở xa nhất cũng đã về đến nhà và chắc chắn cũng sẽ có những cuộc họp báo cáo với những người “ở nhà”, không loại trừ những “đại hội Dân Chúa” cấp giáo phận, cấp cộng đoàn, với những chương trình hành động theo tinh thần Sứ Điệp của Đại Hội Dân Chúa năm 2010, được cụ thể hoá theo hoàn cảnh từng vùng miền, ”đưa ra những định hướng và kế hoạch mục vụ của Hội Thánh Việt Nam trong những năm sắp tới”. Sứ điệp của Đại Hội dân Chúa Việt Nam năm 2010 nói rõ : “Đại hội Dân Chúa Việt Nam kết thúc, nhưng lại mở ra cho những bước chân hi vọng, niềm hi vọng được khơi nguồn và hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (§ 8). Có nghĩa là Đại Hội với một lực lượng đại biểu và đại diện hết sức hùng hậu và đầy đủ, gồm 32 giám mục và 300 thành phần Dân Chuá các cấp khác nhau, không hề ảo tưởng về những hoa trái ngon ngọt tất yếu sẽ có được ngay sau một Đại Hội có thể tạm gọi là “thí điểm” nầy. Còn như ý thức về thách đố trước mắt, và những gì sẽ làm được, thì còn phải chờ thời gian trả lời, vì quả thực Giáo Hội Việt Nam, cụ thể là Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, đang dấn thân vào một cuộc chiến, một thách đố không còn đường lùi. To thuyền thì lớn sóng: Kỳ vọng bao nhiêu từ những thành phần đại diện tham dự Đại Hội và chờ đợi bao nhiêu từ Dân Chúa, thì đòi hỏi ý thức và quyết tâm hành động càng cao bấy nhiêu. Xin mượn lời của nhạc sĩ Nguyễn-Đức-Quang để nói lên tâm tình phải có trong giai đoạn hậu đại hội (x. § 8 SĐCĐHDC 2010) của mọi thành phần Dân Chúa Giáo Hội Việt Nam, kẻ đi phó hội cũng như người ở nhà:

“Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi

phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới.

Hàng chục năm qua, ta ngồi ngó nhau

nghi ngờ nhau, khích bác nhau cho cay cho sâu, cho thật đau” (Không Phải Là Lúc)

Lời cầu nguyện của Đại Hội : “Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến (Kh 22, 20), vừa là lời cầu xin vừa diễn tả niềm khao khát và hi vọng của đại hội”. Bầu khí phụng vụ chuẩn bị Mùa Vọng, cho thấy ước ao “nhập thể và nhập thế” nầy và Giáo Hội Hội Thánh tại Việt Nam phải nhập thể vào văn hóa và lịch sử của dân tộc mình (x. § 4 SĐCĐHDC 2010), trong đó có sự thẳng thắn “nhìn nhận mình còn nhiều lỗi lầm thiếu sót, vì thế khiêm tốn xin Chúa và anh chị em trong cũng như ngoài Hội Thánh tha thứ cho” (x. § 7) [xét theo ngữ cảnh, không hiểu là Hàng Giáo Phẩm đấm ngực hay là các đại biểu - Đại Hội?]. Nhưng rõ ràng đây phải là Lễ Ngũ Tuần, lễ Thần Khí Chúa hiển hiện, ban Thần Khí và lệnh xuất phát. “Hãy Ra Khơi – Au Large”, như lời Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II. Câu các thiên thần hát vang cầu chúc đêm Chúa Hài Nhi giáng sinh : “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2, 14), mà Đại Hội đang mong đợi, cũng phải được hiểu là lời chúc của Chúa Giêsu: “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14, 27), trước khi phát lệnh lên đường, con đường khổ nạn mà Người thấy rõ trước và muốn các môn đệ Người noi theo : “Nào đứng dậy! Ta đi khỏi đây” (Ga 14, 31 c). Mùa Vọng là mùa mong đợi. Mùa Phục Sinh và Hiện Xuống, mới chính là sứ điệp Chúa Giêsu gửi cho Đại Hội Dân Chúa: lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Tất cả “chất liệu” đã và sẽ có đủ. Tất cả những gì cần nói về quá khứ, về môi trường sống và xã hội, đất nước, những thuận lợi và những thách thức, … Tất cả đã được nói ra thẳng thắn, rõ ràng và đầy đủ. Nay là lúc hành động, không còn là lúc “ngó nhau, nghi ngờ nhau, khích bác nhau”nữa. Sẽ là lỗi lớn, nếu còn những cá nhân, tập thể không theo tinh thần Hoà Giải - Tha Thứ - Hiệp Thông, để cùng năm tay nhau xây dựng Hôi Thánh, mà cứ tiếp tục “đứng ngoài, đứng trên Giáo Hội” để phê phán, chỉ trích (bài giảng lễ bế mạc của Đức Cha Phêrô Trần-Đình-Tứ). Nhưng cũng sẽ lỗi nặng và khó lòng biện minh được, nếu sự trì trệ trong Giáo Hội Việt Nam vẫn không được “giải toả” và sau một sự kiện lịch sử như Đại Hội Dân Chúa, mà vẫn không thấy những chuyển biến sâu rộng. Aide-toi, le ciel t’aidera : hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ sẽ giúp ta. Giáo Hội Việt Nam không chỉ có những bàn tay đổi mới, mà trên hết, là Chúa Thánh Linh, Đấng luôn canh tân, Đấng ban bảy ơn cả, trong đó có ơn khôn ngoan, ơn dũng cảm, ơn đạo đức.

BÌNH AN DƯỚI THẾ, tuy vậy, vẫn là lời cầu chúc, là ước vọng và là thông điệp, mà Dân Chúa Giáo Hội Việt Nam muốn gửi đến cho nhau, trong Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh nầy.

Thời gian qua - đặc biệt từ những vụ việc từ Toà Khâm Sứ đến Giáo Xứ Thái Hà, từ Đồng Chiêm đến Tam Toà rồi gần đây nhất la vụ việc Cồn Dầu -, những gì cần nói, những gì cầu mong và cầu xin đều đã được trải rộng, phơi bày, có khi hiền hoà, chân thành, có khi đượm màu bực bội, khắt khe, rất ít bao dung: tất cả ít nhiều đều có tác động tích cực, thể hiện qua những nhận định, những “nghị quyết” và như đã nói trên, cả lời thú nhận và xin tha thứ của Đại Hội (song phải hiểu là của Hàng Giáo Phẩm và hàng giáo sĩ) trong Đại Hội nầy. Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI đã thẳng thắn cám ơn các phương tiện truyền thông, vì đàng sau những ác ý đối với Giáo Hội và nhất là đối với cá nhân Người, là mối lợi chúng đem lại, để giúp Giáo Hội bừng tỉnh cơn mê, nhìn rõ “con sâu đang đục khoét” Vườn Nho Chúa, mà kịp thời “sám hối, sửa đổi, canh tân”. Nhưng như đã nói, hành động, chuyển biến, - dù với Ơn Thần Linh Chúa - cũng không thể là công trình thực hiện và hoàn tất ngày một ngày hai, chưa kể là trong khi đem ra thực hành, sẽ không tránh khỏi những vấp váp, “bất cập”, những thiếu sót, những cái sai (hiểu sai, làm sai). Đòi hỏi như thế là vô lý. Một bào thai còn phải qua chín tháng mười ngày được cưu mang trong lòng mẹ, để chào đời và phát triển. Thánh Phaolô phải dùng cả cuộc đời hoạt động truyền giáo, chịu bao gian nan khổ đau về thể xác và tinh thần, cuối cùng phải dùng cả cái chết, để chứng minh Ơn Chúa Giêsu gọi Ngài biến đổi tư tưởng, hành động trên đường đi Damas. Vì thế, hãy để lời cầu chúc BÌNH AN DƯỚI THẾ trở thành của chúng ta : bình an có được chẳng phải dễ dàng gì. Bình an ấy có bền vững hay không, là ở chúng ta. Bình an ấy chỉ có thể có được và duy trì, phát triển, nên ơn ích cho Giáo Hội Việt Nam và cho mỗi tín hữu Công giáo, nếu trong tư tưởng, lời nói, việc làm đều thấm nhuần tinh thần AN BÌNH - YÊU THƯƠNG - HIỆP NHẤT, vốn là bản thể Chúa Ba Ngôi và cũng là điều Thiên Chúa mong muốn ban cho loài người, khi thực hiện lời hứa cứu độ, qua Mầu Nhiệm Nhập Thể, Khổ Nạn và Phục Sinh của con Một Người, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Đã có những tiếng thở ra nhẹ nhỏm, khi Đại Hội Dân Chúa kết thúc, của Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, của ban tổ chức và những người cộng tác, của những người lạc quan nhìn về tương lai Giáo Hội Việt Nam, như Đức Giám Mục giáo phận Phú Cường, rằng “có cảm giác như Giáo Hội Việt Nam đang trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng” và nhận định rằng, “Giáo Hội Việt Nam đang sống trong một bầu khí thật chan hòa, cởi mở, những ngày đại hồng ân”, khi Đức Cha rất tế nhị dùng thì hiện tại (temps présent) : ĐANG. Nhưng cũng không thiếu những tiếng thở dài : hiện tại không phải là quá khứ hoặc tương lai. Hiện tại, khi đang ngồi ở trong một Đại Hội dân Chúa như thế, không thể không cảm nhận bầu khí “chan hoà”, bình an, “cởi mở”, “đại hồng ân”. Nhưng chỉ là với những người đang ngồi dự hội, nghe những bài tham luận, dự những giờ cầu nguyện, “rồi mình ngồi kể chuyện cho nhau nghe”. Hoàn toàn không phải như thế đối với 6,5 triệu tín hữu Việt Nam đang khát khao chờ đợi, đang ở trong “chảo lửa”, đang mong ngóng cơn mưa giải hạn không chỉ làm dịu hoặc dập tắt những đả kích liên miên, vốn gây không ít ngờ vực, chia rẽ, thù hằn, mà còn chờ mong những giải đáp và giải pháp cho những khó khăn của đời sống đức tin liên quan đến các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội : tham nhũng, đàn áp, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do lương tâm, nạo phá thai, an tử, ưu sinh (eugenics), và bao vấn đề đạo đức sinh học khác. Những điều đó đã được gợi lên trong Sứ Điệp của Đại Hội Dân Chúa Năm 2010, nhưng chỉ là nói cho nhau nghe. Nay đã đến lúc “công bố trên mái nhà” lập trường của Giáo Hội, không sợ hãi, không thoả hiệp. Thách đố không hề nhỏ chút nào và Giáo Hội Việt Nam, cụ thể là Hàng Giáo Phẩm chỉ còn con đường đi tới và phải thành công. Si vis pacem, para bellum : an bình chỉ đến sau khi làm cho chiến tranh không còn cớ để châm ngòi bùng phát. 6,5 triệu cặp mắt đang theo dõi, đang chờ đợi, đang kỳ vọng vào một tương lai tươi sáng của Giáo Hội Việt Nam, xứng đáng với lịch sử năm trăm năm truyền giáo, 350 năm thiết lập hai giáo phận tiên khởi và nhất là 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Sắc chỉ Venerabilium Nostrorum của Đức Thánh Cha Gioan XXIII năm 1960, không chỉ thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, mà còn là công nhận sự trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam và Hàng Giáo Phẩm Việt Nam (năm 1960, chỉ còn lại hai vị Giám Mục Hội Thừa Sai là Đức Cha Marcel Piquet Lợi, giáo phận Nhatrang - từ trần năm 1966 - và Đức Cha Paul Seitz Kim, giám mục giáo phận Kontum, bị nhà nước cộng sản Việt Nam trục xuất tháng 8.1975). 50 năm qua (1960 – 2010) là thời kỳ phát triển, “trưởng thành”. Tín hữu Việt Nam càng có lý do để tin tưởng và trông đợi ở Hàng Giáo Phẩm của họ.

Giáo Hội Việt Nam không phải của các Giám Mục Việt Nam, mà là của toàn Dân Chúa Giáo Hội Việt Nam, nhưng Giáo Hội cũng không bao giờ là “dân chủ”, hiểu theo nghĩa “do dân” rồi từ đó phải “của dân, vì dân”. Giáo Hội có phẩm trật (hierarchique), hữu hình cũng như vô hình. Mọi quyền bính và quyền năng đều do Chúa Kitô - Đầu Giáo Hội - ban và truyền cho các tông đồ. Vì thế, là những người nhận phép rửa và tin vào Chúa Kitô, tin vào Hội Thánh Người, Hội Thánh mà Người tín thác cho các tông đồ và các môn đệ, những người đầy khuyết điểm và tội lỗi trong đời sống một tín hữu, nhưng lại được hưởng đặc sủng khi thi hành thừa tác vụ Chúa giao phó qua Giáo Hội, qua các bề trên, qua Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và những Đấng Kế Vị các tông đồ : Giám Mục. Bổn phận mỗi tín hữu là HIỂU BIẾT - YÊU MẾN - TRUNG THÀNH - HIỆP NHẤT - BÊNH VỰC - CẦU NGUYỆN và XÂY DỰNG Giáo Hội. Trong việc xây dựng, người tín hữu có quyền góp ý, nêu những thắc mắc liên quan đến đời sống đức tin của bản thân hoặc/và của cộng đoàn, nhưng phải tuyệt đối trong tinh thần hoà bình, xây dựng, và có ý ngay lành, không nhằm đả kích, bôi nhọ hay hạ thấp uy tín một ai, không gây chia rẽ nghi kỵ. Làm trái đi, thì dù có phơi bày sự thật đến đâu, cũng chỉ làm hại.

Ngày Thế Giới Truyền Thông năm 2003, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã gửi thông điệp “Những phương tiện truyền thông phục vụ hoà bình chân chính trong ánh sáng Pacem in Terris” (Hoà Bình Dưới Thế- Đức Thánh Cha Gioan XXIII ban hành ngày 11. 04. 1963). Thông điệp được ban hành trong bối cảnh Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối tự do và cộng sản, nhưng vẫn có thể là bài học cho chúng ta:

1. Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đặc biệt lưu ý các phương tiện truyền thông khi ngài kêu gọi "sự thẳng thắng và vô tư" trong việc xử dụng các "dụng cụ để cổ võ và phổ biến sự hiểu biết nhau giữa các quốc gia" có đầy đủ khoa học và kỹ thuật, ngài chê bai "những phương cách phổ biến thông tin xúc phạm tới những nguyên lý chân lý và công lý, và gây hại cho danh tiếng của một nước khác "

2. Sự đòi buộc luân lý cơ bản của tất cả truyền thông là phải tôn trọng và phục vụ chân lý. Sự tự do tìm kiếm và nói điều chân thật, là thiết yếu đối với sự truyền thông nhân loại, không những trong liên quan với những sự kiện và thông tin, mà còn, và cách riêng, đối với bản tính và vận mạng con người, đối với xã hội và công ích, đối với tương quan chúng ta với Chúa. Các phương tiện truyền thông đại chúng có một trách nhiệm không thể trốn thoát theo ý nghĩa này, bởi vì chúng làm nên một lãnh vực hiện đại nơi, các ý niệm được chia sẻ và dân chúng có thể lớn lên trong sự hiểu biết nhau và trong tình liên đới. Đó là lý do tại sao Đức Giáo hoàng Gioan XXIII bênh vực quyền "được tự do tìm kiếm chân lý và - trong giới hạn trật tự luân lý và công ích - tự do nói và công bố "như là những điều kiện cần thiết cho hòa bình xã hội" ("Pacem in Terris", 12).

3. Trên thực tế, thường các phương tiện truyền thông phục vụ cách can đảm cho chân lý, nhưng thỉnh thoảng chúng hành động như những tác giả tuyên truyền và thông tin sai để phục vụ tư lợi hẹp hòi, những thiên kiến quốc gia, chủng tộc, nòi giống, và tôn giáo, sự ham muốn vật chất, và những ý thức hệ giả trá đủ loại. Điều cấp bách là những áp lực bắt các phương tiện gánh chịu để lầm lạc như thế, trước hết tất cả mọi người nam và nữ của chính các phương tiện truyền thông, rồi Giáo hội và những nhóm khác liên hệ phải chống đối.

(Zenit 24. 01. 2003. Chuyển ngữ :Đức Ông Nguyễn Quang Sách)

 

BÌNH AN DƯỚI THẾ.

Đó là điều mọi người thiện tâm mong đợi nhất lúc nầy, sau Đại Hội Dân Chúa Việt Nam năm 2010.

Hãy ngưng viết, đưa tin, phát tán những bài viết, những hí hoạ, những hình ảnh có chủ tâm hoặc mang tính chất bôi bác, mạ lỵ, xúc phạm đến các phẩm trật Giáo Hội, nhất là hàng Giáo Phẩm.

Hãy dùng trái tim hoà bình, yêu mến và xây dựng khi viết lên sự thật ("sự thật" chắc chắc, chứ không phải nghe đồn đoán hoặc suy đoán, càng không phải bịa ra).

Hãy để thời gian thử thách Đại Hội Dân Chúa.

Hãy cho Giáo Hội Việt Nam, cụ thể là Hàng Giám Mục, có thời giờ thực hiện những gì đã đưa ra, đã khẳng định, đã thành ‘nghị quyết” ghi lại trong Sứ Điệp của Đại Hội Dân Chúa năm 2010.

Chi tiết cần lưu ý, ấy là Sứ Điệp nầy không gửi cho ai (như các thư mục vụ, thư chung của các Giám Mục, chẳng hạn), vì đây là đúc kết tâm tư, nguyện vọng của toàn Dân Chúa qua 32 giám mục và hàng trăm thành viên đại biểu và đại diện Dân Chúa : Sứ Điệp CỦA Dân Chúa Giáo Hội Việt Nam, lòng nhủ lòng phải canh tân, phải nỗ lực thay đổi thế nào cho xứng với bề dày truyền thống một Giáo Hội đã có 117 Thánh Tử Vì Đạo, đã và đang có hàng trăm ngàn người đổ máu để làm chứng đức tin vào Chúa Giêsu Kitô và lòng bác ái đối với đồng loại, kể cả với kẻ thù nghịch.

Khác biệt giữa các Đấng bị kết án tử vì Đạo và những người bị kết án tử hình khác, là các Ngài chết mà không oán hận, với tâm hồn thật sự bình an và chúc lành cho kẻ nguyền rủa, bắt bớ các Ngài.

HÃY CHÚC BÌNH AN CHO NHAU.

HÃY BƯỚC VÀO MÙA VỌNG CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM, VỚI LỜI CẦU CHÚC CỦA CÁC THIÊN SỨ:

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM.

 

Giuse Nguyễn-Thế-Bài

Giáo dân