ĐẸP THAY NHỮNG BƯỚC CHÂN TRUYỀN GIÁO

Kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho người Dân Tộc.

 

Nhân kỷ niệm 80 năm người K’Ho đầu tiên lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy là bà Maria K’Brut, do Đức Cha Gioan Cát-Sanh cử hành tại Di Linh ngày 7-12-1927. Đức Cha Phêrô, Giám mục Giáo Phận Đà Lạt, đã xin Toà Thánh mở Năm Toàn Xá để ghi dấu biến cố mở đầu công cuộc truyền giáo cho người Thượng vùng cao nguyên Đà Lạt. Chúng ta thử nhìn lại một vài mốc điểm ghi dấu bước chân của những vị truyền giáo.

1* Những bước chân đầu tiên.

Nếu năm 1838 được coi là cột mốc đầu tiên của việc truyền giáo cho các dân tộc thiểu số ở các vùng Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuật với các vị thừa sai dưới thời Đức cha Cuénot Thể, thì tại vùng cao nguyên Đà Lạt chúng ta phải đợi đến năm 1927 mới được coi là mốc điểm truyền giáo cho người dân tộc thiểu số qua sự họat động của cha Gioan Cát-Sanh.

Cha Gongzague Villaume, thường gọi là cố Đề, một linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris, đang coi sóc ở họ đạo Phan Rang, ngày nay là Giáo Xứ Tân Hội, được xem là Kitô hữu đầu tiên đặt chân lên vùng đất cao nguyên Đà Lạt này. Vào năm 1885, một nhóm Văn Thân quá khích nổi lên đốt phá các làng Công Giáo, khiến cha Cố Đề cùng thầy sáu Khiêm và hai chú giúp lễ đã phải trốn lên dãy núi phía Đơn Dương bây giờ, rồi qua Labouye đến Finôm tìm đường về Di Linh. Cha đã phải băng rừng vượt suối hơn 500 cây số trong suốt 24 ngày mới về tới Sài Gòn.

Năm 1890, bác sĩ Yersin, một con người có óc mạo hiểm đã tìm đến cha cố Đề để hỏi đường lên cao nguyên nhưng chuyến mạo hiểm theo ngả Phan Rí lên Tam Bố bất thành vì ông bị sốt rét. Phải ba năm sau, năm 1893, bác sĩ Yersin cùng đòan thám hiểm, trong đó có cha Robert, quản lý hội thừa sai tháp tùng, đã lên hết đèo Sông-Pha, lần theo sông Đa Nhim ra Fi-Nôm lên Prenn rồi đến tận chân núi Lang Bian là đất của người Lạch, và có lẽ tên Đà Lạt bây giờ có nghĩa là đất nước của người Lạt (ĐÀ : tiếng K’Ho có nghĩa là nước; LẠT là dân Lat).

2* Đức cha Gioan Cát-Sanh, ông tổ của những vị truyền giáo người Thượng.

Năm 1918, ngôi nhà nguyện đầu tiên mọc lên giữa vùng cao nguyên này là nhà xứ Chánh Tòa Đà Lạt bây giờ. Các vị thừa sai đã nghĩ đến việc truyền giáo cho người Thượng vùng cao nguyên này nhưng phải đợi đến năm 1927 ý định mới thành hiện thực. Đức cha Isodore Dumortier, đại diện tông tòa Sài Gòn, đã cắt cử cha Gioan Cát-Sanh lên Di Linh (Djiring), nơi có đồn điền của người Pháp để lo việc truyền giáo cho người Thượng.

Tháng 10 năm 1926, Cha Gioan Cát-Sanh lên đường từ Sài Gòn qua ngả Phan Thiết tới ga Ma Lâm thì gặp bão lụt lại phải quay trở về Sài Gòn, nên ngài đãø xuống Cái Mơn để học tiếng Việt. Đầu năm 1927, cha lại lên Đà Lạt rồi xuống Di Linh cùng với một người bếp là ông Mừơi điếc, chú giúp lễ tên là Nhân và 2 giáo dân làm thành một cộng đòan tín hữu đầu tiên giữa vùng núi hoang sơ. Cuộc sống ban đầu thật khó khăn, ngài bị ngã nước, sốt rét hầu như kinh niên. Dù vậy ngài vẫn không quên nhiệm vụ truyền giáo là tiếp xúc và đặc biệt là chăm sóc cho những người Thượng phong cùi bị buôn làng cách ly. Sau gần một năm, tức là ngày 7/12/1927 ngài mới Rửa Tội cho một người Thượng đầu tiên là Maria K’Brut, một người đàn bà bị phong cùi trong lúc hấp hối đã nói với ngài: “Khi con về thiên đàng, con sẽ nhớ tới cha”. Cha bắt đầu học tiếng K’Ho, soạn và in tự điển K’Ho - Pháp, dạy học, dạy giáo lý và cả chữa bệnh. Cha lập làng cùi và được chính quyền hỗ trợ. Người con nào cha cũng thương, nhưng đứa con đau khổ thì thương hơn.

Cha Cát-Sanh còn gia tăng họat động truyền giáo ở vùng Bắc Hội, và người tín hữu K’Ho đầu tiên của vùng này là anh K’Brai chịu Thánh Tẩy ngày 19/3/1930 và đến lễ Giáng Sinh thì cả gia đình theo đạo. Cha còn họat động truyền giáo ở cả họ đạo Xuân Trường, Cầu Đất, xây dựng nhà thờ Công Hinh là nhà thờ Bảo Lộc bây giờ, rồi đến K’Long, Kala…

Năm 1941 cha Gioan Cát-Sanh được gọi về làm giám mục Sài Gòn, tới năm 1955 ngài xin từ chức để trở về với những người phong cùi ở Di Linh. Đức Cha Cát-Sanh luôn xác tín công cuộc truyền giáo cho đồng bào sắc tộc vùng cao nguyên này có sự phù trợ chuyển cầu của người đàn bà phong cùi đầu tiên theo đạo.

Riêng đồng bào Churu ở vùng Đơn Dương, phải đến năm 1954 mới có các cha Darricau (MEP), cha Trần Văn Thông, Grison, và các cha Lazariste : Cartier, Dulucq, Déthune, Jacques Gros, Berset đến truyền giáo cho đồng bào Churu bên Nam sông Đa Nhim và người K’Ho bên này sông. Một sự kiện quan trọng là Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã Rửa Tội cho Già làng Touneh Hàn Đăng năm 1962 tại Diom, sau đó cụ kéo theo 5 làng Rửa Tội, và các buôn làng được tảy rửa khỏi các tà ma mê tín. Tuy nhiên con của cụ là Touneh Hàn Thọ được Rửa Tội sớm hơn khi đang theo học ở Đà Lạt vào năm 1955. Trong Giáo Phận Đà Lạt, người Churu chỉ có ở vùng Đơn Dương, rồi đến vùng Đức Trọng; ngòai ra các nơi khác đều là chung một gốc dân K’Ho.

3* Năm Tòan xá, năm tạ ơn và gia tăng bác ái truyền giáo.

Nhìn lại công cuộc truyền giáo cho đồng bào sắc tộc K’Ho và Churu tại Giáo Phận Đà Lạt này, chúng ta phải dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, và biết ơn các vị thừa sai, đức cha Gioan Cát-Sanh, đức cha Nguyễn Văn Hiền, đức cha Nguyễn Sơn Lâm, đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, và biết bao linh mục, nữ tu, và giáo dân đã tiếp nối và cộng tác truyền giáo.

Cánh đồng truyền giáo vùng cao nguyên này đang tiến triển rõ nét. Cuối thời đức cha Hiền, 1973, Giáo phận có 80 ngàn tín hữu thì người Thượng là 15 ngàn tín hữu. Thời đức cha Lâm, 1994, số giáo dân là 185 ngàn, trong đó có 41 ngàn tín hữu dân tộc K’Ho và Churu. Còn hôm nay, 2006, tổng số giáo dân Đà Lạt là khỏang 300 ngàn thì số người Thượng theo đạo là hơn 100 ngàn. Đến nay, Giáo Phận Đà Lạt đã có 3 linh mục người K’Ho (cha Phêrô K’ Cheoh ở Bảo Lộc; cha Phanxicô Brel ở Di Linh và cha Ya Thu ở Ka Đô) và 1 linh mục người Churu (cha Phaolô Ya Tine, ở Diom A, Lạc Viên) . Năm Toàn Xá kỷ niệm 80 năm truyền giáo này là cơ hội để mọi tín hữu, Kinh cũng như Thượng, tạ ơn Thiên Chúa và gia tăng đời sống bác ái trong nhiệt tình truyền giáo.

“Đúng là Chúa dẫn đắt công cuộc truyền giáo ở vùng cao nguyên Đà Lạt này trên những con đường không ai nghĩ tới”.

lời tạ ơn của cây lúa hạt thóc

Lm. Phạm Công Phương -  Gx. Lạc Viên