Nhân NGÀY KHAI MẠC NĂM THÁNH MỪNG KỶ NIỆM 80 NĂM TRUYỀN GIÁO CHO NGƯỜI DÂN TỘC ĐÀLẠT

 

Người bản địa loan báo Tin Mừng cho người bản địa

 

 Ngày 29.10.2006, Giáo phận Đà Lạt khai mạc Năm thánh kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho người dân tộc. Tại các nhà thờ trong giáo phận đều cử hành thánh lễ hướng về ngày kỷ niệm này nhân dịp khai mạc Năm thánh. Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Giám mục giáo phận Đà Lạt, đã dành cho báo Công Giáo Và Dân Tộc cuộc trao đổi xung quanh công cuộc truyền giáo ở giáo phận Đà Lạt. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi:

 

CGvDT: Thưa Đức cha, Giáo phận Đà Lạt mừng kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho người dân tộc, nhân sự kiện bà Maria K’Trut, người tín hữu dân tộc đầu tiên lãnh nhận phép Rửa vào ngày 7/12/1927 do Đức cha Gioan Cassaigne cử hành tại Di Linh, việc chọn lựa này có ý nghĩa gì?

Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Trước hết, tôi xin lưu ý : khi ban bí tích Rửa tội cho bà Maria K’Trut ngày 07/12/1927 thì Đức cha Gioan Cassaigne còn là linh mục ; ngài chịu chức giám mục vào ngày 24/6/1941 tại nhà thờ Chính Tòa Sàigòn. Việc chọn ngày rửa tội bà Maria K’Trut làm điểm khởi đầu cho công việc rao giảng Tin Mừng cho người bản xứ có ý nghĩa rõ ràng. Từ khi đặt chân lên mảnh đất Cao Nguyên này vào năm 1917, các thừa sai đã quan tâm đến sự hiện diện của người dân bản xứ, lúc bấy giờ là tuyệt đại đa số dân vùng này, nhưng những nỗ lực đầu tiên để tiếp cận không có kết quả, vì không biết ngôn ngữ và phong tục. Vậy, sự kiện rửa tội cho bà Maria K’Trut phải đuợc coi là một "biến cố" quan trọng khởi đầu cho công cuộc truyền giáo kéo dài đến hôm nay được 79 năm. Bước vào năm thứ 80 (2007), Giáo Phận muốn nhìn lại vô vàn hồng ân Chúa đã thương ban cho anh chị em, mà chúng ta thường gọi là người dân tộc, hoặc người dân tộc thiểu số, một cách gọi mà tôi sợ rằng không được chuẩn lắm. Vậy tôi tạm gọi là người "bản địa".

 

CGvDT: Thưa Đức cha, đối với đồng bào dân tộc, truyền giáo có phải chỉ cần lo cái ăn cái mặc cho họ và bên cạnh là thánh lễ ngày chủ nhật? 80 năm qua, công cuộc truyền giáo cho đồng bào dân tộc trong Giáo phận Đà Lạt đã diễn ra như thế nào?

Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Từ xưa đến nay, truyền giáo bao giờ cũng phải hiểu là loan báo Tin Mừng, Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, và Đức Giêsu Kitô nhập thể, chịu chết và sống lại là chính Tin Mừng. Tùy từng thời kỳ, hoàn cảnh, địa phương… việc loan báo Tin Mừng này tựa trên nhiều phương thức khác nhau, nhưng cũng chỉ nhắm đến việc loan báo Đức Kitô. Cái ăn, cái mặc, nhà thờ… là những cái gắn liền với đời sống cụ thể, không phải là cái thiết yếu của việc loan báo Tin Mừng, nhưng cũng không thể tách rời ra khỏi việc loan báo Tin Mừng (x. Is 61,1-3). Tuy chúng ta đến với những con người chưa biết hoặc đang khao khát Tin Mừng (Chân Lý, Lẽ Sống, Cứu Cánh cuộc đời…), mà những con người ấy đang sống trong đói khát, bệnh tật, ngu dốt, áp bức… thì liệu Tin Mừng của chúng ta loan báo có sức thuyết phục hay được đón nhận ? Vì thế, công cuộc rao giảng Tin Mừng của Giáo Phận khi đã xác định mục tiêu là loan báo Đức Kitô thì đồng thời cũng rất quan tâm đến mọi khía cạnh liên hệ đến cuộc sống của con người. Vậy, nếu cần có nhà thờ, có thánh lễ và các bí tích, cầu nguyện, dạy giáo lý, tổ chức giáo xứ, giáo họ, v.v… thì cũng đồng thời quan tâm đến phát triển đời sống, chăm sóc sức khỏe và đặc biệt gìn giữ và phát huy văn hóa.

Anh chị em dân tộc bản địa là những con người còn mang trong mình nhiều nét đẹp cao quý như tính hồn nhiên, chất phác, yêu quý thiên nhiên …, nhưng cuộc sống của họ còn nhiều khó khăn vì nghèo đói, ít học, nên rất dễ bị cuốn hút bởi những tiện nghi của xã hội vật chất. Để giúp anh chị em vượt qua những cám dỗ này cũng như các tập tục cổ hủ khác, trong đó có việc uống rượu và chung sống trước hôn nhân, Giáo Phận đã có nhiều nỗ lực. Cụ thể là đã nhiều năm qua, từng bước Giáo Phận có các chương trình bác ái để thăng tiến anh chị em về đời sống, sức khỏe, đặc biệt là học hành. Ở đây tôi muốn nói lên tâm tình Giáo Phận biết ơn các ân nhân xa gần đã quảng đại góp phần để các chương trình bác ái này đem lại niềm vui và hạnh phúc cho anh chị em. Đặc biệt, “chương trình khuyến học” nhằm giúp cho các em ngay từ thưở nhỏ được cơ hội cắp sách đến trường và thăng tiến xứng với phẩm giá con người. Chương trình này cấp học bổng nhỏ cho các em trong thời gian theo học từ mẫu giáo đến hết cấp I, để các em có thể tự lo cho mình trong việc giữ vệ sinh cơ thể, biết đọc biết viết và nếu là kitô hữu thì các em được lãnh nhận các bí tích căn bản. Đến nay, đã có 60 em đã học xong cấp I, và hiện có 934 em hưởng học bổng từ năm 1 đến năm thứ 7.

Ở trên tôi có nói đến một hủ tục của người dân tộc là uống rượu. Có lẽ chúng ta đã chưa hiểu biết đủ về truyền thống này của anh chị em, cần phải nghiên cứu kỹ hơn trước khi đánh giá.  

 

CGvDT: Theo Đức cha, việc truyền giáo cho đồng bào dân tộc nơi các giáo phận vùng Tây nguyên có giống nhau không? Xin Đức cha cho biết thêm về nét đặc sắc riêng của giáo phận Đà Lạt?

Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Tôi nghĩ rằng không riêng ba giáo phận Tây Nguyên là Kontum, Ban Mê Thuột và Đàlạt mà người bản địa đa số là Sêđăng, Bahnar, Jarai, Êđê và Kơho, mà phải nói đến tất cả các giáo phận có người bản địa, thì việc truyền giáo cũng vẫn là loan báo Đức Kitô, Thiên Chúa làm người, chịu chết và sống lại. Tuy nhiên, mỗi sắc tộc có một nền văn hóa, phong tục, ngôn ngữ, truyền thống, v.v… có nét độc đáo riêng. Vậy, trong Giáo Phận Đàlạt đa số người bản địa là Kơho, với một thiểu số là Churu, phát xuất từ hai nguồn gốc khác nhau, chúng tôi cố gắng để thích ứng với mỗi sắc tộc. Tuy nhiên, trong công tác mục vụ không có những khác biệt quan trọng, trừ ra ngôn ngữ : vì thế trong việc biên soạn các sách kinh, bài hát, tự điển, ca dao tục ngữ và nhất là các bản văn phụng vụ, chúng tôi trong nhiều năm qua bắt đầu bằng tiếng Kơho và khi đã tạm hoàn thành thì sẽ chuyển qua tiếng Churu và tiếng Lạch. Việc nghiên cứu lịch sử, phong tục, tập quán, văn chương đòi hỏi nhiều nỗ lực và thời gian, nhưng với ơn Chúa và sự nhiệt tình của nhiều người, chúng tôi cũng hy vọng sớm hoàn thành.

 

CGvDT: Ơn gọi linh mục tu sĩ nơi đồng bào dân tộc được giáo phận gieo trồng như thế nào? Đến nay những hạt giống đã đơm hoa kết quả ra sao?

Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Ngay từ lâu, chúng tôi đã ý thức một cách mãnh liệt : phải đi đến tình trạng người dân tộc loan báo Tin Mừng cho người dân tộc, vì chỉ có họ mới có thể hiểu được cách thấu đáo niềm tin, tư tưởng, tâm tình, suy nghĩ, nguyện vọng, ưu tư, v.v… của chính đồng bào của họ, và cũng chỉ họ mới có thể truyền đạt ý tưởng, giải thích vấn nạn, đối thoại… Nhưng vì trước hết họ không có chữ viết và thiếu những từ ngữ để diễn tả ý tưởng trừu tượng nên việc giải thích và truyền đạt còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên Chúa đã quan phòng tất cả khi ban cho Giáo Phận trong lúc khởi đầu việc truyền giáo được có một vị tông đồ thánh thiện, khôn ngoan, nhiệt tình… là cha Gioan Cassaigne. Khi được gửi đến miền đất Cao Nguyên này năm 1927 thì tức khắc ngài đã bắt tay vào việc học ngôn ngữ và dùng ngữ vựng la-tinh để diễn đạt các ý tưởng, đồng thời khai phá con đường truyền giáo theo cách thức mà ngày nay người ta gọi là "hội nhập văn hóa", rao giảng bằng chứng tá và phục vụ người nghèo .

Theo gương cha Gioan Cassaigne, nhiều hội dòng thừa sai đã dấn thân phục vụ người bản địa như dòng Chúa Cứu Thế, Tu Hội Vinh Sơn, dòng Đaminh và cách riêng Hội Thừa Sai Paris. Kể từ năm 1958 các linh mục Việt Nam bắt đầu bước vào công cuộc truyền giáo cho anh chị em dân tộc, và từng bước các ơn gọi linh mục, tu sĩ bắt đầu. Công việc huấn luyện này đòi hỏi rất nhiều thời gian. Hiện nay mới có 4 linh mục sắc tộc (2 linh mục triều, 1 linh mục Vinh Sơn, 1 linh mục Phanxicô) và 3 nữ tu khấn trọn dòng Mến Thánh Giá Đàlạt, và từ vài năm qua số ơn gọi gia tăng nhiều.

 

CGvDT: Thưa Đức cha, việc truyền giáo cho người dân tộc, ít nhiều có rơi vào tình trạng “đồng hóa” hay không? Cảm tưởng về điều này đã từng xẩy ra trong quá khứ khi có người cho rằng Giáo Hội Việt Nam “Tây quá”, bởi ảnh hưởng cung cách của những thừa sai phương Tây?

Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Chúng tôi đã hết sức quan tâm đến vấn đề này, và hy vọng không để xảy ra, nhưng phải công nhận đây là một việc rất khó khăn vì chúng tôi chưa có chủng viện hoặc nhà dòng riêng cho anh chị em dân tộc mà phải huấn luyện chung với người kinh. Vì thế, chúng tôi luôn tạo điều kiện để chủng sinh và tu sĩ dân tộc được nhiều cơ hội chia sẻ cuộc sống với đồng bào của mình và luôn được nhắc nhở họ được đào tạo cho sứ mạng giữa đồng bào của mình. Nhưng cũng khó tránh hết một vài lối suy nghĩ, cư xử, ngôn ngữ của người kinh. Đây là một thách đố phải sẵn sàng đón nhận và nỗ lực để vượt qua.

 

CGvDT: Đức cha vừa mới dự Đại hội Truyền giáo Á châu lần thứ I, Đức cha có thêm suy nghĩ gì về công cuộc truyền giáo ở Việt Nam ?

Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Suy nghĩ thì nhiều, nhưng rồi thực hiện sẽ được bao nhiêu, đó là ưu tư của tôi và bây giờ chưa thể trả lời được. Tôi chỉ có thể nói rằng : sau những ngày Đại hội, mình sẽ nói về Câu chuyện của Chúa Giêsu cho nhiều người hơn và nói một cách xác tín, vì mình đã tin vào Ngài và vì yêu mến Ngài nên muốn chia sẻ về Ngài cho anh em. Trong Đại hội có sự hiện diện của khá đông người dân tộc thiểu số (kể cả một Đức hồng y), điều đó làm cho tôi thêm phấn khởi trong việc loan báo Tin Mừng cho anh chị em dân tộc.


Quốc Chung & Ngọc Trản