LỊCH SỬ GIÁO XỨ KALA

 

(Để kỷ niệm 80 năm Truyền Giáo cho Anh Chị Em người bản địa, chúng ta cũng cần tìm lại những cội nguồn từ đó hạt giống Tin Mừng mọc lên và lan tỏa ra. KALA là một trong những cội nguồn mà chúng tôi muốn giới thiệu, và Cha Đaminh Nguyễn Huy Trọng, hơn ai hết, có thể giúp chúng ta tìm hiểu, qua những tâm tình và ngôn ngữ rất đơn sơ chân thành. Xin cám ơn Cha)

 

Lược sử Trung Tâm Truyền Giáo Thượng Kala ngày xưa cũng là Giáo xứ Kala, Bảo Thuận ngày nay.

 

(Do Linh mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng, Quản xứ Giáo xứ Kala từ năm 1969 đến nay, biên soạn)

 

 

Danh xưng Giáo xứ Kala chỉ được thường xuyên nói đến từ sau năm 1975. Trước đó mọi người hay gọi là Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala. Địa danh Kala trong các cụm từ trên đã được chọn chỉ vì chính tại địa bàn này vào năm 1936 đã được Linh Mục Jean Cassaigne chọn lựa để thiết lập một cứ điểm truyền giáo đầu tiên và đặc thù riêng cho anh em Dân tộc bản địa tại địa phương này. Cụ thể là vào năm đó, Ngài đã làm một nhà dạy Giáo lý tại đồi Kwil-bùm. Rồi sau đó, năm 1940, đã mua đất và làm nhà thờ nhà xứ. Tất cả đều nằm trên phần đất của một số dòng tộc KơHo có tên chung là làng Kala (Bòn Kala).

Kala, tiếng KơHo có nghĩa là cây tre nói chung. Theo các bô lão kể lại thì ngày xưa trên các sườn đồi của cả vùng này đều có rất nhiều loại tre nứa song mây mọc tràn lan. Nên đã lấy nó làm tên gọi chung cho một số dòng tộc KơHo đã định cư tại đây. Để phân biệt các dòng tộc khác nhau cũng là các làng khác nhau, thì ngay sau tên chung là Kala còn có những tên phụ khác. Ví dụ Kala Tôkrêng, Kala Mbel, Kala Tơngkle, Kala Sơkò, Kala Kwil-bùm…

Các loại tre nứa song mây, ngoài việc nó là các vật dụng cần thiết để làm nhà cửa, các công cụ sinh hoạt hằng ngày… thì nó còn là một phương tiện tối cần trong các cung cách diễn tả niềm tin của Dân Tộc KơHo nói chung. Từ việc dùng nó để lập bàn thờ Thần Linh (Jơnào Yàng), đến việc làm các loại cây nêu lớn nhỏ… (Jơnơr, dồng…) để cúng Thần, tùy từng hoàn cảnh cụ thể. Thực tế hơn nữa nó còn là một trong một số nguồn thức ăn phong phú vô tận cho cả con người và thú rừng. Chưa kể theo lịch sử thì trước khi có muối ăn như bây giờ, người KơHo đã tìm ra được một số loại bẹ tre khi đốt thành tro, thì tro đó có vị vừa mặn lại vừa thơm nữa.

Địa bàn hoạt động của Trung Tâm Truyền Giáo Thượng Kala theo nghĩa hẹp là trọn lãnh thổ của Huyện Di Linh trước năm 1975. Cụ thể tính theo Quốc lộ 20 thì khởi từ cây số 16 cho tới cầu Đại Ninh (Dà Ñing) ; ngược lên thì tới ranh giới Quảng Đức ; xuôi xuống thì tới ranh giới Phan Thiết. Cho dù sau này có Trung Tâm Truyền Giáo Thượng Di Linh, thì vai trò của nó cũng không bớt đi bao nhiêu. Nói rõ hơn, Trung Tâm Truyền Giáo Thượng Di Linh chỉ phụ trách truyền giáo cho mấy làng Dân tộc gần đó, để dành thời giờ nhiều hơn cho việc giáo dục, cách riêng cho các em Dân tộc ở xa tới ăn ở và học tập. Điều này bản thân tôi, ngay khi về nhận nhiệm sở Kala, 1969, đã được Linh mục Christian Grison, Giám đốc Trung Tâm Truyền Giáo Thượng Di Linh nhắc nhở.

Có thể chứng minh được rõ ràng vấn đề này thông qua các Sổ Rửa Tội mà các vị tiền nhiệm tại Giáo xứ Kala này đã ghi và ký nhận. Trong thực tế, khi tôi về đây, còn thấy Linh mục Phêrô Trần Văn Khoa và các cộng sự viên của ngài, là các giáo dân nam nữ Thượng và Việt có mặt và dạy giáo lý ở rất nhiều làng Dân tộc bản địa ở khắp Huyện Di Linh này.

Công đầu lập nền móng cho Trung Tâm Truyền Giáo Thượng Kala, và sau đó là Giáo xứ Kala, thuộc về Linh mục Jean Cassaigne và các linh mục phụ tá của ngài. Từ năm 1926, ngài đã là Cha sở đầu tiên của Giáo xứ Di Linh. Và cũng từ năm đó ngài đã bắt đầu Truyền giáo cho người Dân tộc bản địa nói chung, cách riêng cho anh em Dân tộc KơHo, mà ngài đã gặp mặt và tiếp xúc thường xuyên.

Sau đây tôi xin dựa vào các tư liệu có sẵn để diễn tả đầy đủ hơn đôi chút về lịch sử hình thành cũng như diễn tiến của Giáo xứ Kala cho đến hôm nay (2006). Tư liệu này gồm có các Sổ Rửa Tội tại Giáo xứ Di Linh và Giáo xứ Kala ; một số giấy tờ hiện còn lưu trữ tại tủ hồ sơ của Giáo xứ Kala ; cộng với các mốc điểm mà cố Linh mục Giuse Phùng Thanh Quang, hơn 40 năm làm Cha sở Di Linh (08.10.1962 – 26.10.2003) đã sưu tập được. Trong đó có một số cứ liệu ngài đã trình bày trong tác phẩm “Lạc quan trên miền Thượng”, xuất bản năm 1973. Tác phẩm này cũng có đề cập đến Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala.

I. TIỂU SỬ

Ngày thứ tư, 26.10.1926, Cha Jean Cassaigne, vị linh mục Thừa sai người Pháp, 31 tuổi, tới nhận nhiệm sở Di Linh. Lúc đó chỉ có chừng 10 người Việt có đạo. Ngay chiều hôm đó, một cảnh tượng đập vào mắt ngài, đó là các người Thượng, khi đi làm về có ngang qua khu vực nhà xứ. Ấn tượng này lập tức gần như bắt ngài phải có một ý nghĩ cũng khác thường, đó là “quay về phía anh em Dân tộc bản địa”.

Ý nghĩ này càng ngày càng thấm dần và ăn sâu rồi chiếm trọn tâm hồn và cuộc đời ngài, qua việc vừa gặp gỡ họ hằng ngày, vừa học tiếng nói của họ bằng việc ghi ký cách phát âm ngôn ngữ KơHo theo mẫu tự tiếng Latinh. Thế rồi việc phải đến cũng đã đến : Vào chiều ngày 07.12.1927, Ngài đã “rửa tội” lần đầu tiên cho một bà già bệnh cùi gần chết, người Dân tộc KơHo (Sổ Rửa Tội tại Giáo xứ Di Linh, cuốn I, số 25). Bà tên là K’Trŭt, thánh hiệu Maria, đã qua đời ngày 20.12.1927. Có lẽ đây là dấu ấn mạnh mẽ nhất, dứt khoát quyết định cho cả đời vị linh mục Thừa sai này. Cho dù sau này ngài được làm Giám mục Sàigòn, thì cái dấu ấn và tình cảm này cũng không khi nào nguôi ngoai.

Nếu lần theo Sổ Rửa Tội này cho tới số 1106 ngày 13.5.1941 là số chót có chữ ký của Cha Jean Cassaigne, thì ngài đã rửa tội được cho cả thảy 280 người Dân tộc bản địa, thuộc rất nhiều làng khác nhau. Để tiện bề cho những ai muốn tham khảo và tìm hiểu thêm, tôi xin ghi lại đây tên các làng Dân tộc đã có người được Cha Cassaigne rửa tội, theo thứ tự trước sau (theo hàng ngang) :

 

Djiring

Drongto

Konh Teh

Bơsùt

Pơning

Sơk

Konh Iang Dơn

Kwil Bùm

Kơnion Pil

Lang Biang

Kòn The

Phi Mur

Rơmen

Kòn Iang

Rhiang

Kin Sĭp

Kinda

Kaming

Prum

Pruy

Kròt

Jarai

Joê

Bơsu Ngơr

Liăng

Bơsi

Brang

Rớc Iăng

Da Li

Rơda

Nồp Kriăng

Cil Kơ Du

Bơteh

Kañ

Klong-trau

Sre-boh

Bơtao

Konh Dai

Rơhàng Ung

Donh

Bơsăr

Tambou

Bobla

Da Dur

Da Lo

Tớt Lir

Kòn Pàng

Kơ Du

Kơ Dăc

Kơ Da (Dalat)

Bơbro

Kơnềt

Klong Dium

Djiramur

Con

Konh Dà Riam

Kơniong Dơr

Phi Dăng

Hàng Blàng

Bơnơr

Nbung

Ta Mong

Bơkeh

Bơio

Cao Kwil

Bo-ơn-tau

Dòngdòr

Kơla

Kơbra

Kơnion Darnu

Yantăr

Konh Sip

Blang Kuh

Bơkao

Hampiơr

Liang Ka

Yăn Kăr

Tơrlum

Dala

Sre Kơyăng

Kòn Yung Dờng

Kagne

 

Tất cả là 82 làng Dân tộc bản địa khác nhau, có mặt trên khắp lãnh thổ tỉnh Lâm Đồng hiện nay (2006). Từ Đàlạt qua Ryông Tô, Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lộc… Trong đó có tên 8 làng (có gạch dưới) hiện đang thuộc Giáo xứ Kala. Nếu tìm hiểu kỹ thì còn có thể thấy ra một số địa danh hiện không thuộc tỉnh Lâm Đồng.

 Như vậy là chỉ trong vòng vỏn vẹn khoảng 15 năm (1927-1941), một con người “rất xa lạ” đã khai phá, khởi sự và đặt nền móng rất vững vàng, rộng khắp… cho một công việc (truyền giáo), mà chắc chắn cho đến hôm nay không ai có thể “cắn gót”. Nếu lại đem “cái cảnh vực” của cái thời 15 năm đó so sánh với các “phương tiện” của ngày hôm nay, thì còn hội ra được nhiều điều kinh ngạc và lạ lùng hơn nữa. Xin nêu ra một ví dụ : Cho tới tháng 7 năm 1932 thì Quốc lộ 20 mới được tạm khai thông. Vậy thì các loại đường lớn nhỏ khác đã làm gì có. Cách riêng các loại đường mòn giữa các làng Dân tộc với nhau cũng không có luôn. Mỗi lần đi lại là mỗi lần phải khai phá.

Cũng cần nói đến sức khoẻ thể xác của con người đã làm nên kỳ tích này. Đó là chỉ sau khi đến Di Linh có vài tháng là đã bị vi trùng sốt rét rừng quật ngã. Ai cũng biết bệnh này làm tiêu hao sinh lực và ý chí phấn đấu của con người đến cỡ nào. Cứ nhìn vào các hình ảnh còn ghi lại được thì chỉ thấy đây là một người ốm o gầy gò, xanh xao vàng vọt. Hình ảnh này còn được hiển hiện và sống động trước mắt tôi suốt gần 4 năm trời, từ khi tôi về Kala (1969) cho tới cuối năm 1973, năm ngài qua đời. Cụ thể tôi muốn nói tới việc ngài viết thơ mời tôi lên dâng lễ cho anh em bệnh nhân phong cùi các ngày Chúa Nhật và một số lễ khác trong năm. Trừ vài tháng cuối đời, còn thì mọi Thánh lễ tôi dâng đều có ngài ra tham dự từ đầu tới cuối. Khoảng mỗi tháng một lần ngài mời vào phòng khách riêng hỏi han chuyện trò it câu về sức khoẻ về công việc truyền giáo và xã hội.

Với các bối cảnh địa lý cụ thể và sức khoẻ cá nhân như vậy, mà Linh mục Jean Cassaigne trong vòng 15 năm đầu đã dạy Giáo lý và rửa tội được cho từng ấy người Dân tộc bản địa của hơn 80 làng khác nhau, thì chắc chắn không phải là chuyện dễ dàng và đơn giản. Càng suy nghĩ càng thấy con người này phải có một nội lực phi thường, cộng với một sự can đảm vượt trội. Sự can đảm này là tôi có ý nói riêng tới sự sôi động và bất thường của cái bối cảnh lịch sử chính trị và quân sự lúc bấy giờ, mà “Lạc quan trên miền Thượng” có nhắc sơ qua.

Song song với công việc đặc thù “Truyền giáo cho người ngoại” vừa kể, Cha Jean Cassaigne còn làm được một số công trình đồ sộ khác mà theo thiển ý không ai có thể nghĩ tới hay làm được trong cái hiện trạng lúc đó.

Việc thứ nhất là âm thầm đi khắp nơi tìm tòi và thu gom các người Dân tộc bản địa bị bệnh phong cùi lại, làm nhà cho họ ở và tự tay chăm sóc, băng bó, nuôi ăn… Đại sự này đã được Linh mục Giuse Phùng Thanh Quang ghi lại các nét chính trong cuốn “Lạc quan trên miền Thượng”. Một tác phẩm nên tìm đọc để suy niệm, chiêm ngưỡng học đòi bắt chước và dâng lời cảm tạ tri ân.

Việc thứ hai là miệt mài ghi ký ngôn ngữ KơHo thành văn tự. Kết quả là ngài đã viết từ điển, sách đàm thoại… và nhiều sách khác. Ngài còn vừa sáng tác vừa phiên dịch các kinh nguyện, Giáo lý, nghi lễ bằng tiếng KơHo. Tất cả đều đã được in ấn hẳn hoi. Công trình của ngài đã mở màn và làm nở rộ các nghiên cứu chuyên biệt khác về anh em Dân tộc KơHo mà Hàn Lâm Viện Pháp quốc làm chủ đầu tư. Riêng với các nhà Truyền giáo, của Công giáo lẫn Tin Lành đã coi đây là một bàn đạp hữu hiệu nhất để nhập cuộc và hội nhập.

Việc thứ ba là thành lập một Trung Tâm Truyền Giáo Thượng chuyên biệt đầu tiên tại tỉnh Lâm Đồng và Giáo phận Đàlạt hiện nay. Đó là Trung Tâm Kala đây.

Nói “chuyên biệt đầu tiên”, bởi lẽ đã quá rõ ràng Giáo xứ Di Linh phải được công nhận là “cái nôi đầu tiên” sản sinh ra con cái Chúa là người Dân tộc bản địa của Giáo phận Đàlạt. Và cho đến hôm nay (2006), sau 80 năm, Giáo xứ Di Linh vẫn còn là vậy. Quả xứng đáng là con chim đầu đàn và là anh cả của công tác Truyền giáo.

II. DIỄN TIẾN VIỆC THÀNH LẬP “TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO THƯỢNG KALA” VÀ HIỆN GIỜ GỌI LÀ “GIÁO XỨ KALA”.

Trước khi trình bày vào chi tiết, xin được nhắc lại đây vài điều cơ bản, để người đọc và tìm hiểu nắm vững vấn đề.

Từ khi thành lập, thì địa bàn hoạt động của Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala theo nghĩa rộng là toàn bộ lãnh thổ của tỉnh Lâm đồng hiện nay ; theo nghĩa hẹp là địa giới huyện Di Linh trước năm 1975.

Địa bàn hoạt động này có được giảm bớt phần nào khi có các Trung tâm Truyền giáo khác có mặt tại địa bàn huyện Di Linh như Trung tâm Truyền giáo Thượng Di Linh, Trung tâm San-sẻ Dariam, Trung tâm Gia Lành và Tam Bố. Có nhiều lý do cụ thể để cả ba “Trung tâm” này khoanh vùng hoạt động của mình, ở trong một phạm vi địa lý nào đó.

Để chứng minh cụ thể cho điều này thì xin rà lại Sổ Rửa Tội của Giáo xứ Di Linh và Kala sẽ thấy rõ. Cho tới đầu thập niên 1990, vẫn còn khá đông anh em Dân tộc bản địa ở nhiều làng khác nhau trên địa bàn huyện Di Linh tới Kala xin học đạo hoặc rửa tội cho con em mình. Tôi (Cha xứ Kala) phải nhờ Giáo xứ Di Linh như một “trạm trung chuyển” để dạy Giáo lý, cử hành bí tích… song song với Giáo xứ Kala.

Như vậy danh xưng Giáo xứ Kala được hiểu theo nghĩa hẹp, tức trọn lãnh thổ hành chánh của xã Bảo Thuận, thì chỉ mới có đây thôi. Tôi nói theo đức tin và nghiệp vụ được “trao ban” và “sai đi”.

Xin trở lại đề tài. Trước khi Linh mục Jean Cassaigne băng rừng lội suối vừa tìm mua đất tại Kala này để thành lập Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala, thì con số anh em Dân tộc bản địa tại vùng Kala này được lãnh Bí tích Rửa tội và ghi sổ tại nhà thờ Giáo xứ Di Linh đã lên tới con số gần 60 người, họ thuộc 8 làng chính như đã kể trên đây. Người đầu tiên là Têrêsa Dŭt, người làng Drongto, được Cha Cassaigne Rửa tội nguy tử khi mới 2 tuổi đời, vào ngày 07 tháng 11 năm 1930 (Sổ Rửa Tội Di Linh, cuốn I, số 67). Điều này tự nó đã nói lên rất nhiều điều cần suy nghĩ. Xin gợi mở một ý : Làng Drongto cách xa nhà xứ Di Linh khoảng trên dưới 20 cây số đường rừng. Để rửa tội được cho em bé này, đương nhiên phải chiếm được cảm tình của cha mẹ em, và theo phong tục tập quán, thì phải được các trưởng tộc đồng thuận. Vậy là đương nhiên phải có nhiều lần đi lại thăm nom truyện trò… tại chỗ trước đó… Quả thực với các phương tiện và cung cách hành xử như hiện nay, thì không ai còn có thể hình dung ra nổi các vất vả gian nan, các công lao tày trời của những “bước chân gieo mầm cứu rỗi” của đầu thế kỷ 20.

Đành phải ngưng lại các điều nhận xét tương tự trên đây để đi vào các mốc điểm lịch sử cần ghi nhận, và đã được công khai hoá cách này cách khác. Có điều các mốc điểm lịch sử này được trích ra từ những tư liệu khác nhau, có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới việc hình thành ra Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala trước đây và sau này là Giáo xứ Kala. Thế nên sau khi liệt kê các mốc điểm thời gian, cần phải có một cái nhìn tổng hợp sao cho sự hợp lý tối thiểu để vừa dễ hiểu vừa dễ nắm bắt.

Theo tác giả “Lạc quan trên miền Thượng” thì ngày 27.01.1939 có 6 người Thượng, đại diện cho làng Kwil-bùm, Bơsùt, Krot chính thức đến thăm Cha Cassaigne và mời ngài vào thăm các làng của họ. Lập tức Cha Cassaigne và một giáo dân Thượng vẫn giúp đỡ ngài vào tận nơi thăm viếng (trang 155).

Dân các làng trên đã tiếp đón Cha Cassaigne rất niềm nỡ và đã đồng ý với nhau chọn Kala là địa điểm chính, để Cha Cassaigne dựng lên nơi đó một chòi tranh làm trạm dạy Giáo lý. Và bắt đầu từ tháng 5.1936, hàng tuần Cha Cassaigne thường xuyên lui tới với họ. (trang 16)

Xin lưu ý ở đây hai con số : năm 1939 bắt đầu tới thăm, nhưng từ năm 1936 đã có nhà dạy Giáo lý rồi.

Ở trang 168 còn kể rằng : Ngày 04.03.1940, Cha Cassaigne quy tụ anh em Công giáo Thượng lại để khai phá một con đường rộng, dài gần cây số, nối liền Trại cùi Di Linh với Thí điểm Truyền giáo Kala, để sự đi lại dạy Giáo lý cho dân làng dễ dàng hơn, cả mùa nắng lẫn mùa mưa. Thí điểm truyền giáo Thượng này, ba năm sau đó (1943), trở thành Giáo xứ Kala.

Chính ở trang 168 này đã nảy sinh thêm mấy điểm cần phải làm rõ hơn và đúng hơn.

Theo hồ sơ còn tìm lại được thuộc Giáo xứ Kala, thì con đường Cha Cassaigne và anh em Công giáo Thượng khai phá này dài ít nhất là 3 cây số, tính từ Làng cùi cũ tới nhà dạy Giáo lý đầu tiên toạ lạc ở làng Kwil-bùm. Nếu kể cho tới nhà xứ Kala thì phải thêm gần 1 cây số nữa. Hồ sơ này còn nói rõ khi làm con đường này có qua phần ruộng của ai thì Cha Cassaigne liền điều đình để mua lại sòng phẳng. Cụ thể là có 5 chủ ruộng : 4 ở làng Klongtrau (1. Kơ Bros : 13 đồng 20 – 2. Kơ Bron : 6 đồng – 3. Kơ Thong : 8 đồng 40 – 4. Kơ Dic : 6 đồng) và một ở làng Kwil-bùm (5. Kơ Bing : 6 đồng). Giấy tờ đã ký, đã điềm chỉ sau khi các chủ ruộng đã nhận tiền đầy đủ, đề ngày 17.3.1940.

Riêng về đất và nhà thờ nhà xứ… hiện giờ thì hồ sơ lưu trữ còn có bản đồ và giấy tờ ghi lại là : ngày 21.5.1940, Tỉnh trưởng Đàlạt và các ban ngành có liên quan đã ký giấy mua đất do Cha Cassaigne đứng tên. Và cũng năm đó, cùng lắm là đầu năm 1941 là đã làm xong nhà thờ, nhà xứ và hai ngôi nhà làm trường học, mỗi nhà 6 gian rộng chia làm 3 lớp. Cụ thể hơn nữa là niên khoá 1941–1942 đã chính thức khai giảng trường Sơ cấp của Giáo xứ. Các giáo viên chính thức lúc đó đều là người Churu. Tất cả các nhà này đều tồn tại tới năm 1993 mới bị phá bỏ, trừ ngôi nhà thờ, vì được chăm sóc cẩn thận, nên vẫn đứng vững. (Hiện giờ, 2006, vẫn còn nhiều vết tích có thể kiểm chứng được rõ ràng, đặc biệt là hai hồ chứa nước và một sân phơi cà phê vẫn còn nguyên trạng).

Trước khi trình bày rõ hơn, có một điều cũng cần đề cập ngay. Đó là cho tới thập kỷ 1960, thì toàn bộ khu vực nhà thờ, nhà xứ Kala hiện giờ nằm lọt thỏm trong một vùng rộng lớn, rừng cây um tùm rậm rạp. Làng Dân tộc gần nhất cũng cách nhà thờ khoảng một cây số. Các làng Dân tộc hiện giờ thấy ở gần nhà thờ thì hồi ấy nhiều làng ở rất xa, có làng xa tới 40 cây số đường rừng về phía Phan Thiết. Chưa kể số nhân khẩu của các làng lúc đó chỉ vào khoảng 1/4 bây giờ.

Qua tất cả các mốc điểm và hồ sơ kể trên, cộng với sự dò hỏi tại chỗ của tôi ngay sau khi về sống chung với anh em tại Giáo xứ Kala (1969). Đặc biệt nơi các bô lão đã góp công sức ít nhiều vào công việc khai phá và xây dựng này. Kể cả một vài người Việt ở Di Linh đã nhận thầu, mua vật liệu và tra tay đục đẽo xây lắp… thì có thể tạm xác định thứ tự thời gian lại như sau :

Năm 1930 Linh mục Jean Cassaigne đã từng đi lại thăm nom một số làng Dân tộc bản địa tại vùng Kala này rồi, kể cả việc dạy Giáo lý và ban Bí tích Rửa tội.

Năm 1936 Cha Cassaigne đã làm một nhà tranh và dạy giáo lý thường xuyên tại đỉnh đồi làng Kwil-bùm. Hiện giờ (2006) đồi này anh em ở căn cứ Bảo Tuân về sinh cơ lập nghiệp.

Năm 1940, Cha Cassaigne đứng tên mua miếng đất đầu tiên, và cùng năm đó, ngài nhờ Cha Chauvel, phụ tá, và sau đó là Cha Grelier đôn đốc việc dọn đất làm nhà thờ, nhà xứ, trường học… như vừa kể trên. Từ đó nơi đây có tên gọi là Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala.

Câu nói ở trang 103 trong “Lạc quan trên miền Thượng” : Thí điểm Truyền giáo Thượng này, ba năm sau đó (1943), trở thành Giáo xứ Kala. Điều này phải được hiểu theo bối cảnh lịch sử lúc đó. Ngày 26.10.1938 Cha Chauvel tới Di Linh làm phụ tá cho Cha xứ Cassaigne. Nhưng sau đó 03.9.1939 được gọi nhập ngũ, giải ngũ chính thức 05.3.1941. Trong khoảng thời gian này ngài không có mặt thường xuyên ở Di Linh, mà chỉ khi nào Cha xứ Cassaigne cần mới xin về dăm bữa nửa tháng. Bên cạnh đó cũng có một số linh mục thừa sai khác, cụ thể là Cha Grelier được Cha xứ Cassaigne nhờ vả nhiều tháng liên tiếp… Khoảng cuối năm 1940 thì Cha Cassaigne được tin chính thức sẽ làm Giám mục Sàigòn. Và ngày 24.6.1941 là Lễ Tấn phong Giám mục. Cha Chauvel, sau khi giải ngũ, là tiếp nhận chức vụ quản xứ Di Linh, lo tổ chức Lễ Tấn phong Giám mục, và rồi trở lại Di Linh điều hành Giáo xứ.

Như vậy việc dọn đất và xây dựng Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala là do Cha Cassaigne chủ trì, nhưng mọi việc cụ thể trực tiếp lại trao cho nhiều cha khác đảm trách, trong đó có Cha Chauvel và Cha Grelier. Khi công việc đã hoàn tất, kể cả việc khai giảng năm học 1941–1942, thì cũng không có linh mục nào chính thức và thường xuyên ở tại Kala cả. Theo lời kể của các bô lão tại đây thì từ khi khởi công xây dựng Trung tâm cho đến khi Cha Chauvel chính thức đến ở Kala, 1943, thì có khá nhiều linh mục người Pháp khác nhau đến đây để trông coi công việc xây cất và sau đó là ở lại ít lâu để điều hành các công việc của Trung tâm. Ngay thời gian Cha Chauvel được chính thức bổ nhiệm ở đây (từ 1943) cũng không được liên tục, vì những biến cố thời sự lúc đó. Cũng vì thế mà Sổ Rửa Tội của anh em Giáo dân Kala vẫn được ghi tại giáo xứ Di Linh, cho tới năm 1948. Cụ thể là ngày Thứ Bảy Tuần Thánh 27.3.1948, Sổ Rửa Tội cuốn I số 1 tại Giáo xứ Kala mới ghi người đầu tiên là Joanes Sěo, sinh năm 1931, tại làng Kala, do Cha Jacques Dournes rửa tội, ghi sổ và ký tên.

Tóm lại, năm 1940, Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala được xây dựng và hoàn chỉnh. Cha Chauvel là người được Cha Cassaigne chỉ định đầu tiên coi sóc và điều hành. Ngài chính thức được bổ nhiệm ở tại đây vào năm 1943.

III. SƠ LƯỢC THỜI ĐIỂM CÁC LINH MỤC ĐÃ CHÍNH THỨC TỚI Ở VÀ ĐIỀU HÀNH CÔNG VIỆC TẠI TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO THƯỢNG KALA HAY GIÁO XỨ KALA.

Các số liệu trong chương mục này được dựa theo Sổ Rửa Tội tại Giáo xứ Di Linh và Giáo xứ Kala là chính. Bên cạnh đó là các tư liệu riêng do Cha Giuse Phùng Thanh Quang thu tập, ngài đã cho tôi xem và ghi vắn tắt được đôi điều. Ngoài ra hồ sơ lưu của Giáo xứ Kala cũng còn xót lại vài điểm cần đề cập. Một điều đáng tiếc là đã không chú tâm ghi lại công việc của các vị tiền bối đã làm ở đây. Thành thật xin lỗi.

1. Cha Jean Cassaigne

Rất thật là ngài đã không chính thức ở tại Kala, nhưng chẳng ai dám phủ nhận ngài là người tiên phong và dầy công để khai phá và đặt nền vững chắc công cuộc Truyền giáo cho anh em Dân tộc bản địa tại Lâm Đồng này nói chung, cách riêng cho anh em Dân tộc tại vùng Kala này. Những điều đã kể trên đây quá đủ để minh chứng điều này. Có thể nói bước chân thánh thiện của ngài đã dầy đặc trên mảnh đất vùng này từ trước năm 1930. Xin ghi lại đây thêm vài sự kiện để nói lên sự quan tâm và có mặt thường xuyên cách nào đó của ngài tại nơi đây :

a. Tại sao Cha Cassaigne không chọn một địa điểm khác để thành lập Trung tâm Truyền giáo Thượng đầu tiên, mà lại cắm mốc ở một nơi xa xôi hẻo lánh, rừng thiêng nước độc Kala này ? Ví dụ ở chính Di Linh Thượng, ở Dǒng-dòr ở Klong-trau… là những nơi mà vào năm 1940 đã có khá đông anh em Dân tộc theo đạo. Những nơi này vừa thuận tiện lại vừa hợp tình hợp lý.

Tại sao không chọn luôn chính làng Kwil-bùm, là nơi đã có nhà giáo lý đầu tiên (1936), và chung quanh đã có một dòng tộc người bản địa đang sinh sống, mà lại đi sâu vào thêm cả cây số nữa, để mua đất và thành lập Trung tâm ? Một nơi thật vắng vẻ, cô quạnh, rừng cây rậm rạp không có lấy một nhà Dân tộc nào ở gần.

Ngoài ra, xét theo thời sự lúc đó (1929–1945), thì việc chọn nơi đây cho các linh mục Thừa sai Pháp tới lo việc Truyền giáo cho anh em Dân tộc bản địa là quá nguy hiểm, cả ba bề bốn bên. Quả thực, theo “Lạc quan trên miền Thượng” thì vào thời điểm này, nhiều vị Thừa sai Pháp, nếu không bị gọi nhập ngũ, cũng phải chạy trốn tứ tán… Ngay các vị được gởi đến Kala những năm này cũng không thoát khỏi số phận trên.

Làm sao lý giải được sự lựa chọn éo le này ? Nếu không nghĩ tới việc Cha Cassaigne đã phải trăn trở dằn vặt, suy nghĩ đắn đo trong âm thầm cầu nguyện. Và chính Thiên Chúa đã ra tay can thiệp cách nào đó theo sự quan phòng của Ngài. Không thể hồ nghi được là Cha Cassaigne đã nhạy cảm và sớm nhận ra “Ý Định” này. Ngài và các vị cộng tác với ngài đã vui vẻ và tận lực tuân theo, không có ai thắc mắc hay muốn đặt lại vấn đề. Hơn thế còn hy sinh tất cả, kể cả xương máu để đặt nền cho “Giáo xứ” từ lúc phôi thai. Cụ thể hơn nữa là các ngài đã tìm mọi cách để có thể hiện diện và bám trụ lại đây, chứ không tìm nơi khác để rồi đi cho an toàn hơn.

b. Các tác phẩm đạo đức bằng tiếng KơHo do ngài sáng tác hoặc phiên dịch… đều đã được thử nghiệm tại nhà thờ và Giáo xứ Kala nhiều năm trước khi được in ấn hẳn hoi. Điều này đòi hỏi ngài phải có mặt tại chỗ nhiều lần, nhiều ngày để tập tành, cắt nghĩa, làm mẫu… cho các vị khác. Hiện nay (2006), tại nhà thờ Kala vẫn còn đọc trích đoạn một “kinh” của ngài bằng tiếng KơHo, sau khi “Rước lễ”. Và khi ngồi toà giải tội, thì thấy còn vài người vẫn đọc kinh cáo mình của ngài dịch, chia ra làm hai phần trước và sau khi xưng tội. Theo lời các bô lão kể lại thì chính Cha Cassaigne đã dạy giáo lý và đọc kinh tại nhà giáo lý (1936) và tại nhà thờ này (1940)

Xin viết nguyên văn trích đoạn kinh đọc sau khi rước lễ, để mọi người chiêm ngưỡng cách viết tiếng KơHo của ngài lúc đó, đồng thời cũng xem cách dịch của ngài đúng nguyên văn tới cỡ nào :

Any neh roo Yesu – karhö any duh Bap-Yang – ae dö Bàp-Yàng – sa any bal mơ Sa Yesu – kony ddom bê Yesu – lang öm bal tai – hing nau tam truu.

Any dan dö Yang Cau Yesu – öm ngan bal mö any – dong any – dong cau söl – dong mee bap – dong oh mö mi – dong jöh löh niam – nac söl soan cau chöt – roo tam truu.

O Yesu sörmah löm – any cuun költang – any khoai dö Mi – dan dö Mi – dong any pin ngan – dong any kölui Bap-Yang tam truu – dong any nac cau. Neh löh yöh – dong any mal ngan – bösram löh niam wöl – Any kölui, any sönöng – pram tiil sout Mi – any nac ngan – any tönkah chi bua David – neh yal ornau – : “Cau huit jöng ti any, – cau köp jöh ntiing any”.

Hai cuốn sách Giáo lý và Kinh Lễ đã in ấn hiện có trong tủ sách của Giáo xứ Kala, người ta xem thấy một số mô hình và hình chụp của nhà thờ Kala. Nếu ai kỹ tính có thể đem ra so sánh giữa hình in trong đó và nhà thờ Kala hiện giờ. Tất cả vẫn còn đậm nét. Hai cuốn đó là :

 

- Jat gung Yesu. Sara Jönau Bap-Yang

Vicariat Apostolique de Saïgon – (Chrétientés Pémsiennes) – Les Presses Missionnaires – 184, Avenue de Verdun, ISSY-LES MOULINEAU
 (Seine) – 1951

Imprimatur – Saïgon, die 16 mensis maii, in anno sancto 1950

X Jean Cassaigne, episc.

 

 

- Duh Bap-Yang bal mö Yesu

Vicariat Apostolique de Saigon – Chrétientés Pémsiennes

Sara Kon Bap-Yang lang git duh ngan Bap-yang dong kölui sum Bap-Yang böto öm sum mö Bap-Yang bal mö Yesu

1951 – Les Presseses Missionnaires – 184, Avenue de Verdun, ISSY-LES MOULINEAU
 (Seine)

Imprimatur – Saïgon, die 27 Junii, Anno sancto 1950

X Jean Cassaigne, Episc., Vic Apost.

c. Ngày 02 tháng 12 năm 1955. Đức Cha Jean Cassaigne rời Saigon về làng cùi Di Linh. Trước khi lên ở hẳn làng cùi, thì ngài đã sống và làm việc tại nhà xứ và nhà thờ Giáo xứ Kala. Nhiều người nói ngài ở Kala khoảng 6 tháng mới dọn hẳn lên làng cùi. Và cho dù đã lên làng cùi ở thì mỗi bữa cơm trưa ngài đều xuống ăn chung với các cha ở Giáo xứ Kala cho tới khoảng giữa thập niên 1960. Đây là lý do tại sao có con đường piste thẳng từ Làng cùi tới nhà xứ Kala. Con đường này bản thân tôi cũng đi lại hàng tuần để lên dâng lễ tại Làng cùi từ năm 1969 tới khoảng năm 1985 thì quá hư hại, không đi được nữa. Các Dì Vinh Sơn muốn cho sửa sang lại, nhưng tôi không muốn phiền hà tốn phí, nên tiếp tục đi theo đường vòng…

2. Cha Chauvel (1940).

Lúc này ngài đang là Cha phó của Cha Cassaigne (từ 1938), được đặc trách đi lại trông coi việc dọn đất và xây dựng cơ sở Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala. Tưởng cũng nên nhắc lại, thời kỳ này Cha Chauvel đang còn tại ngũ, nhưng vì một sự thông cảm nào đó mà ngài hay được về để phụ lực với Cha Cassaigne. Phụ lực với Cha Chauvel thì có Cha Grelier thỉnh thoảng cũng có tới.

Cơ sở đầu tiên (1940) là nhà thờ, nhà xứ, nhà bếp và hai trường học. Niên khoá 1941–1942, chính Cha Chauvel đã khai giảng niên học đầu tiên. Học sinh là các em Dân tộc ở các làng chung quanh đây, làng xa nhất tới trường là khoảng 8 cây số.

Hai, ba niên khoá sau đó lại có thêm các em ở quanh vùng Di Linh vào học. Ngoài việc học chữ, các em cũng được học giáo lý, và các môn vui chơi, sinh hoạt tập thể khác.

Chính Cha Chauvel đã cho trồng hai hàng cây “Nho rề” để cắm mốc cho địa giới mà Cha Cassaigne đã đứng tên mua. Theo bản đồ ghi trên hồ sơ mua bán thì chiều rộng một đầu là 80m, một đầu là 100m. Chiều dài một cạnh là 250m, một cạnh là 251m. Hai hàng cây trồng theo chiều dài của thửa đất. Khi tôi về Kala (1969) còn tới vài chục cây. Hiện giờ (2006) chỉ còn sót lại 4 cây.

Khi Cha Cassaigne làm Giám mục Sàigòn (Lễ Tấn phong 24.6.1941) thì Cha Chauvel vừa làm Cha Sở Di Linh vừa quản nhiệm Trung tâm Kala.

Ngày 01.12.1941, Cha Émile Grelier chính thức nhận sở Di Linh, thì Cha Chauvel lưu lại thường xuyên ở Kala, cho tới năm 1943 thì ở hẳn. Chính trong thời gian này Cha Chauvel đã mua thêm hai miếng đất tiếp giáp nhau và liền với khu vực nhà thờ nhà xứ, ăn sát tới chân ruộng. Một miếng khoảng 1,5 ha, ngài đã trồng cà phê ngay. Miếng kia rộng hơn (gần ruộng và suối nước), để cho học sinh vui chơi, cắm trại… tắm rửa.

Ngày 01.02.1946 nhằm ngày thứ bảy, Mồng Một Tết Bính Tuất, Cha Chauvel bị tử nạn tại khúc quanh trên đèo Da Trum, cách Di Linh trên 20 cây số (Tư liệu của Cha Giuse Phùng Thanh Quang).

3. Cha Jacques Dournes

Trong khoảng 1 năm sau khi Cha Chauvel qua đời. Trung tâm Kala không có Cha sở chính thức. Mọi công việc đều do các Cha ở Di Linh đảm nhiệm, có một số cha Thừa sai Pháp khác thỉnh thoảng tới ở và trợ lực.

Cho đến giữa năm 1947, Cha Dournes mới chính thức về nhận nhiệm sở Kala. Trước đó Cha đã là thành viên của Hàn lâm viện Pháp, có chi nhánh ở Đàlạt, chuyên lo việc nghiên cứu các Dân tộc bản địa ở vùng Nam Tây Nguyên này, đặc biệt Dân tộc KơHo. Nên Cha đã có nhiều dịp đi lại tìm hiểu tại địa bàn Kala này. Cụ thể là từ vài năm trước khi về đây ở, ngài đã tìm được ở làng Krot Dờng (thuộc Giáo xứ Kala) một người Dân tộc được toàn vùng Di Linh này kể vào hàng văn sỹ nhân dân đại tài, để vừa dạy ngài vừa giúp ngài tìm hiểu sâu sắc về Dân tộc KơHo. Đó là ông Kơ Brŏk, biệt hiệu Dăm Kuh. Trong một số tác phẩm của Cha Dournes đã in ấn đã có in chân dung của ông này. Khi Cha Dournes về ở tại Kala thì ông Kơ Brŏk còn thường xuyên giúp ngài nhiều việc hơn nữa. Có thể nói mọi tác phẩm của Cha Dournes viết ra, đều ghi đậm dấu ấn của ông Kơ Brŏk.

Vì đã rành ngôn ngữ KơHo, nên khi về quản nhiệm Kala, ngài đã có nhiều thế mạnh để làm việc đắc lực. Trước hết ngài vẫn say mê với công việc nghiên cứu của ngài. Nhưng không vì thế mà ngài sao lãng công tác mục vụ. Theo bút tích còn lưu lại cộng với sự hỏi han các bô lão đã cộng tác với ngài, thì biết được ngài có một thời khoá biểu làm việc hàng ngày rất căng thẳng. Ban sáng dậy khá muộn, dâng lễ, điểm tâm… rồi cùng với mấy người Dân tộc đi thăm khắp các làng Dân tộc chung quanh đây, vừa dạy Giáo lý tại chỗ, vừa tìm tư liệu nghiên cứu riêng. Dành hết thời gian ban đêm để viết lách, tới 2, 3 giờ sáng mới đi ngủ. Dưới đây xin liệt kê tóm tắt một số việc ngài đã làm khi quản nhiệm Trung tâm Kala.

- Là linh mục đầu tiên đã rửa tội và ghi sổ bộ tại Giáo xứ Kala.

- Việc dạy Giáo lý tân tòng và chấp nhận cho rửa tội khá khắt khe. Cụ thể là phải dứt bỏ hẳn mọi nghi thức tế thần theo niềm tin của Dân tộc. Điều này quả có trái ngược hẳn với công việc chuyên môn mà ngài đang miệt mài đeo đuổi.

- Thành lập một hội đoàn, có tên là Xaveri, một hình thức Hướng đạo sinh, nhưng chỉ gồm có một số nam thanh niên đã có đạo, năng nổ, can đảm… để làm hạt nhân sống đạo trong Giáo xứ, và cũng luân phiên đi với ngài gần như hằng ngày, vào các làng mạc hẻo lánh xa xôi.

- Mua thêm một miếng đất bên kia suối Dariam (gần làng Taly hiện giờ) hơn 1 ha để làm sân đá bóng cho học sinh.

- Vì rất thông thạo ngôn ngữ, rành mọi phong tục tập quán, lại có mặt thường xuyên ở mọi làng mọi xóm, nên được mọi người kính yêu nể vì. Kết quả là ngài luôn được mời tham dự, kể cả chủ trì chung với các Trưởng tộc trong mọi việc có liên quan tới các sự cố nội bộ dòng tộc hay dân làng. Theo những chứng từ có đánh số thứ tự còn sót lại thì ngài đã viết tay cả ngàn tờ giấy thuộc dạng “văn tự” hay “phân xử tranh chấp”. Tất cả đều có chữ ký của ngài và dấu lăn tay của các người có liên hệ.

- Không biết vì lý do gì mà từ niên khoá 1948-1949, các lớp học cho người Dân tộc của Giáo xứ Di Linh được sát nhập vào trường của Giáo xứ Kala.

- Năm 1952, Trường Sơ cấp Giáo xứ Kala được hợp thức hoá theo pháp lý đương thời, lấy tên là “École missionaire de Kala”

- Năm 1952, các chị “Tiểu Muội” đã tới thăm Kala, sau đó mua một miếng đất ở làng Krot Sơk, cách nhà thờ Kala khoảng gần 2 cây số. Cha Dournes đã giúp các chị làm nhà, và đầu năm 1953, các chị đã chính thức tới ở và làm việc… Bằng chứng cụ thể là ngày Thứ Bảy Tuần Thánh năm 1953, một trong số các chị tên là Solange đã đỡ đầu cho một thiếu nữ tân tòng tên là Madalena De, người làng Bơsùt (Sổ Rửa Tội số 45). Cũng xin ghi ở đây luôn là các chị đã rời khỏi Kala năm 1967.

- Về công trình và các tác phẩm nghiên cứu về Dân tộc KơHo thì không thể kể ra đây hết được. Đơn giản là tại Giáo xứ Kala không có lưu trữ. Khi về đây, tôi có lưu tâm sưu tập lại được một vài tác phẩm như cuốn từ điển KơHo – Pháp, bộ Dân luật phổ thơ (Loit de Coutume) và một vài bài nghiên cứu rời khác. Bằng đó thì chẳng thấm tháp vào đâu với những điều tôi nghe nói tới. Muốn tìm lại tạm đầy đủ thì chỉ có cách tìm tới “Thư viện của Hội Dòng của ngài”. Có điều cần nói ở đây là, hầu hết các tác phẩm đã in ấn của ngài đều được hoàn thiện trong những năm ngài ở Kala này. Vì các tác phẩm mà tôi sưu tập được thì đều ghi rõ là làm tại Kala.

- Có lẽ Cha Dournes đã bỏ hẳn Kala vào cuối năm 1953 hoặc đầu năm 1954. Vài sự kiện để đoán định :

Cha đã rửa tội và ghi sổ số chót là số 46 đề ngày 19.4.1953, cho một ông già nguy tử.

Ngày 18.4.1951, Cha Rubat từ Di Linh vào làm việc chung với Cha Dournes (vì giáo xứ Di Linh có Cha sở mới là Cha Phaolô Võ Văn Bộ)

Tháng 9.1952 Cha Grelier vào nhận nhiệm sở Kala, mục tiêu là để cho Cha Dournes rảnh tay lo việc nghiên cứu Dân tộc KơHo.

Cũng năm 1952 có Cha Defos du Rau cũng đến ở và làm việc chung.

Như vậy trong khoảng thời gian này có tới 4 cha Thừa Sai Pháp cư trú và làm việc chung tại Giáo xứ Kala.

Sau khi rời Kala, Cha Dournes về Pháp nghỉ một năm, rồi trở lại Việt Nam, cư trú và làm việc tại Cheoreo, Phú Bổn.

4. Cha Grelier

Như vừa nói, Cha Grelier nhận nhiệm sở Kala vào tháng 9 năm 1952. Khi đó tại Kala đang có 3 cha khác đang ở và làm việc chung. Tôi không tìm được tư liệu riêng nào nói về Cha Grelier trong thời gian ngài ở Kala. Trừ một việc là vào giữa năm 1954, ngài đã làm một nhà nguyện nhỏ tại giữa làng Klong-trau hiện giờ, và hàng tuần đều có linh mục tới đây dạy Giáo lý và dâng lễ.

Tưởng cũng nên nhớ lại, theo Sổ Rửa Tội ở Giáo xứ Di Linh thì làng Klong-Trau từ năm 1929 cho đến thời điểm này (1954) có con số người Dân tộc bản địa đã được rửa tội khá đông, có lẽ chỉ sau làng Di Linh Thượng.

5. Cha Rubat

Như đã kể ở trên, Cha Rubat vào ở Kala từ 18.4.1951, và làm việc chung với 3 cha khác. Khi Cha Grelier đi nhận nhiệm sở khác vào cuối năm 1954, thì Cha Rubat tiếp quản chính thức Giáo xứ Kala. Lúc này chỉ có mình ngài. Các cha khác đã đi hết.

Công việc của Cha Rubat là tiếp tục công tác mục vụ đã có sẵn : thăm viếng các làng, dạy Giáo lý, dâng lễ thêm tại nhà nguyện Klong-trau. Ngài vừa huấn luyện và vừa mở rộng thêm hội “Hướng đạo”. Đặc biệt là ngài lo bổ túc hồ sơ nhà trường và giáo viên theo luật lệ hiện hành.

Vì Cha Rubat hay đau yếu, cần đi tĩnh dưỡng tại Đàlạt nhiều lần, nên đầu năm 1955, có thêm Cha Darricau tới phụ lực.

Ngày 02.12.1955, Đức Cha Cassaigne rời Sàigòn để về ở chung với con cái thân yêu nhất của ngài là anh em bệnh nhân phong cùi. Nhưng trước khi ở hẳn làng cùi, ngài đã ở và làm việc tại Giáo xứ Kala một thời gian (có người nói là tới nửa năm).

Như vậy đã có một khoảng thời gian Giáo xứ Kala có một Đức Cha và hai cha cùng làm việc chung.

Cha Rubat là người cứ đi đi lại lại làm việc tại Kala cho tới năm 1965.

6. Cha Darricau

Lúc đầu Cha Darricau đến Kala với vai trò phụ lực với Cha Rubat. Nhưng vì Cha Rubat hay đi nghỉ bệnh lâu ngày, nên trong thực tế mọi công việc của Giáo xứ đều do Cha Darricau đảm đương hết.

Cha Darricau ở Kala từ năm 1955 tới năm 1961.

Công việc của Cha là tiếp tục và hoàn thiện các việc đã có trước đó. Nhưng có một việc nổi trội có tính toán từ trước, đó là ngài đã làm hai ngôi nhà sàn lớn rất vững chắc, ngay phía đầu nhà thờ, và hiện còn (2006). Mục đích là để cho các Dì Tu hội Vinh Sơn tới ở, vừa phục vụ đặc biệt cho Làng cùi, vừa giúp việc truyền giáo cũng như xã hội tại Giáo xứ Kala. Các Dì đã làm trọn vẹn cả hai nhiệm vụ này một cách đáng nể phục.

Tôi không có số liệu chính xác ngày các Dì Vinh Sơn chính thức về đây, nhưng cứ xét theo công việc xây dựng nhà cửa, thì sớm nhất các Dì chỉ có thể về đây ở và phục vụ là cuối năm 1956. Ngày các Dì rời hẳn nơi đây để lên Làng cùi ở là cuối năm 1969.

Hai ngôi nhà sàn lớn (hiện còn) thì một các Dì làm nơi ở và sinh hoạt riêng ; một làm nơi ở cho các em “cách ly” và một số nhân viên phục vụ Làng cùi, đồng thời cũng là nơi huấn nghệ chung cho các thiếu nữ.

Cha Darricau đã giúp các Dì mua thêm một miếng đất kế cận, gần 2 ha, để làm vườn trồng trọt cho các em Dân tộc nói chung. Đất này hiện giờ anh em dòng tộc Sơkò đang định cư. Bản thân tôi cũng đã trồng trọt cây ngắn ngày ở đây hai mùa vào năm 1975 và 1976.

7. Cha Desplanque

Năm 1961, sau khi Cha Darricau về Đàlạt, thì Cha Desplanque về nhận nhiệm sở Kala. Cha Rubat vẫn thường xuyên đi lại.

Năm 1963, Cha Desplanque về Sàigòn.

Cha Rubat tiếp tục ở lại Kala. Nhưng vì sức khoẻ càng ngày càng yếu, nên tháng 6 năm 1965, Ngài bó buộc phải rời hẳn Kala.

Với việc Cha Rubat đi nghỉ bệnh dài hạn. Giáo xứ Kala không có linh mục Thừa sai Pháp nào tới nữa. Có lẽ cũng nên dừng lại đây để suy nghĩ và nhận định, tùy khả năng của mỗi người, về 26 năm (1940–1965) xây dựng và trưởng thành của Trung tâm Truyền giáo Thượng Kala và bây giờ là Giáo xứ Kala.

Với tôi, là người đi sưu tập tư liệu và trình bày ra, thì mỗi thời điểm và từng vụ việc, đều gợi mở ra cho tôi rất nhiều điều phải suy nghĩ, phải học hỏi và phải bắt chước. Khá nhiều điều tôi đã hữu ý kể ra trên đây, mục đích là để nhắc nhở chính tôi, mỗi khi nhìn về quá khứ, cần phải có một sự trân trọng tối đa. Đúng hơn vì đây là công việc thuộc bản tính của Giáo Hội Công Giáo, nên phải đặt Đức tin của Giáo Hội lên trên hết và trước hết. Lý trí, sự khôn ngoan, các kinh nghiệm và biệt tài chuyên môn… chỉ là các loại phương tiện phục vụ cho cái lý tưởng chung của Giáo Hội.

Với suy nghĩ như trên, nên khi trình bày cho tới đây, tôi càng ngày càng thấy rõ một sự kiện rất tích cực và cũng rất nổi cộm, nhưng lại rất khó diễn tả ra cho hết ý. Xin phép thử gợi ra đôi điều.

Công cuộc Truyền giáo cho anh em Dân tộc bản địa ở Lâm Đồng nói chung, cho anh em Dân tộc KơHo tại miền Kala này nói riêng, lúc đầu xem ra chỉ có một mình Linh mục Jean Cassaigne nghĩ tới, và cũng chỉ có một mình tự suy nghĩ, mày mò thực hiện. Nhưng ngay sau đó thôi là có cả một lớp người đồng chí hướng tận lực tiếp tay và tiếp nối.

Cụm từ “đồng chí hướng” này mới cao cả và tích cực biết bao. Chúng ta phải hiểu nội dung ý của nó ở một mức độ cao nhất, mới có thể áp dụng đúng đắn được nó ở sự kiện này. Xin nêu ví dụ cụ thể : Tất cả các linh mục Thừa sai Pháp đều có thể sẵn sàng tới đây, bất cứ vào thời điểm nào và hoàn cảnh nào. Và khi tới nơi, là bắt tay vào tiếp tay, tiếp nối được ngay, chẳng những với tất cả khả năng sẵn có của mình, mà dường như còn đã có sẵn cả một chương trình mở rộng và đi tới.

Đơn giản là vậy, nhưng để có được như vậy, đâu có phải là chuyện dễ dàng. Sự hài hoà và nhịp điệu này đòi hỏi cùng ý thức, cùng hiểu biết, cùng đồng thuận, cùng lãnh trách nhiệm… cùng hy sinh tất cả để cùng đi tới một mục đích chung cục.

Gương sáng của “vị lãnh đạo”, sức lôi cuốn của “người tiên phong” chắc chắn phải vừa là lực đẩy, vừa là sức kéo cho cả đoàn tàu. Đức tính và lòng đạo đức này không phải chỉ dành cho riêng ai. Ở đây là Cha Jean Cassaigne, một linh mục mới có 31 tuổi đầu.

Mọi linh mục nói riêng, mọi Kitô hữu nói chung đều nghĩ rằng vấn đề là phải như vậy. Nhưng khó khăn lắm thay để thấy có được một cái cảnh như vậy trong hiện tại.

Xin được diễn tả tiếp quãng đường còn lại kể từ năm 1965

8. Cha Phêrô Trần Văn Khoa.

Ngày 18.7.1965 Cha Khoa chính thức về nhận nhiệm sở Kala, sau khi Cha Rubat rời Kala khoảng 1 tháng.

Trước đó, từ năm 1962, Cha Khoa đã từ Giáo phận Long Xuyên (đang coi xứ Tân Thành, Kênh Tư, Cái Sắn), lên miền Mà Dà Gôih làm việc Truyền giáo cho anh em Dân tộc KơHo ở đó. Đã làm một ngôi nhà thờ và một nhà ở bằng cây, tre, lá. Vì tình hình an ninh không bảo đảm, nên cuối năm 1964, ngài đã về ở với Cha Bề Trên Phaolô Đậu tại nhà thờ Bảo Lộc. Phụ trách dạy Giáo lý và làm linh hướng cho hội Legio.

Vì đã khá rành rẽ ngôn ngữ KơHo, nên ngay khi về Kala, ngài đã đi thăm hỏi tất cả các làng Dân tộc thuộc nhiệm sở lúc đó. Nói chung là toàn địa bàn “Quận Di Linh”, chỉ trừ hai làng Di Linh Thượng và Kaming do Cha Christian Grison trực tiếp quản nhiệm.

Cũng chính trong thời gian đi thăm viếng này, mà có lẽ ngài nghĩ nên bắt chước gương Cha Laurent Phạm Giáo Hoá, đã làm việc Truyền giáo cho anh em Dân tộc tại miền Bảo Lộc từ năm 1958. Đó là chiêu mộ các anh chị em giáo dân tình nguyện “ra đi” để cùng làm việc với ngài.

Kết quả là chỉ khoảng một năm sau đó, ngài đã cài được một số chị em vào sống giữa các làng Dân Tộc như Đăng Srôñ (gần cầu Đại Ninh), Đồng Lạc (Kơ Thăr), Klong-trau, Hàng Blàng, Drongto, Krot, Đinh Trang Hoà.

Bản thân Cha Khoa thì đi lại các nơi trên như thoi đưa, và nhiều làng khác còn có thể tới được,… Thông thường khi tới đâu là ngài tổ chức ngay các lớp giáo lý chung ở đó vào mỗi buổi tối. Chính vì thế mà ngài ít khi có mặt thường xuyên tại Giáo xứ.

Tại Giáo xứ, ngài xây thêm trường lớp, nâng cấp trường Sơ Cấp lên Trường Tiểu học. Tuyển chọn giáo viên cả Việt lẫn Thượng. Những người này ngoài việc làm Giáo viên dạy học, thì cũng là các giảng viên Giáo lý tại chỗ. Mở thêm các lớp học tối cho người lớn tuổi. Bên cạnh đó là mở vườn trẻ, đem các người già cả neo đơn từ xa về nuôi…

Ngài đã làm được hai ngôi nhà nguyện nhỏ, lòng nhà 6m x 16m, sườn gỗ, vách ván, lợp tôn. Một ở làng Hàng-Blang (gần Klong-trau) một ở KơThăr (Đồng lạc). Ngoài những dịp rửa tội tân tòng lẻ tẻ, ngài còn tổ chức một đợt rửa tội đông người do Đức Cha Simon Hoà Nguyễn Văn Hiền chủ sự tại Giáo xứ Tân Thanh (Bảo Lộc 19.5.1968). Cha xứ và giáo dân Tân Thanh bảo trợ hết mọi sự, kể cả việc đỡ đầu cho từng tân tòng. Thầy Trần Tử Lăng lúc đó và sau này làm linh mục, đã rất năng nổ trong công việc này.

Các cha mẹ đỡ đầu và con cái của họ vẫn thường xuyên đến Kala để thăm nom các người con đã đỡ đầu và con cái của họ. Cho đến hôm nay (2006), thỉnh thoảng vẫn còn thấy cảnh tượng thân thương và đạo đức này. Riêng Cha xứ Tân Thanh (cho đến khi qua đời) thì hằng năm vẫn mừng tuổi và khích lệ các anh chị em giáo dân truyền giáo đang phục vụ tại Kala. Đây là lý do tại sao mà trước đây “Phiên chầu lượt” hàng năm vẫn ghi Giáo xứ Tân Thanh và Kala là một.

Năm 1968, khi thấy công việc tại Giáo xứ Kala đã có bề ổn định. Cha Khoa đã nghĩ ngay đến việc thành lập một Trung tâm Truyền giáo mới, địa điểm là Đinh Trang Hoà (Cây số 16). Và ngài đã bắt đầu đi lại thường xuyên tới nơi đây để chuẩn bị. Cụ thể là ngay sau khi Giáo xứ Kala có “Cha phó” là Cha Đaminh Trọng, ngài đã trao hết mọi việc Giáo xứ lại cho Cha phó, để rảnh rang lo cho Cây số 16, có tên là “Trung tâm San-sẻ Dariam”. Đầu tháng 10.1970, nhân dịp tĩnh tâm tháng tại Kala (các Cha Bảo Lộc và Di Linh). Đức Cha Simon Hoà đã chính thức công bố cho Cha Phêrô Khoa đi cây số 16 và Cha Đaminh Trọng làm Cha xứ Kala.

Vì tình hình an ninh nên năm 1967, các chị “Tiểu Muội” đã rời bỏ làng Krot. Cơ sở giao lại cho Giáo xứ. Các chị Truyền giáo đã vào ở ngay. Ban ngày đi làm chung với dân chúng, tối đến là dạy giáo lý.

Cuối năm 1969, các Dì Vinh Sơn cũng rời Kala lên ở hẳn “Làng cùi” để dễ dàng lo cho bệnh nhân hơn. Và cũng vì Đức Cha Cassaigne đã bắt đầu trở bệnh.

9. Cha Đaminh Nguyễn Huy Trọng

(Là chính người tìm tư liệu và viết ra những dòng này)

Tôi lãnh chức vụ linh mục ngày 01.5.1969 tại Nhà thờ Chánh Toà Đàlạt do tay Đức Cha Simon Hoà Nguyễn Văn Hiền. Cũng chính ngài, sáng 06.6.1969, sau khi đưa tôi vào nhà nguyện riêng chầu Mình Thánh Chúa, dẫn tôi về phòng riêng, viết và ký giấy “bổ nhiệm” tôi về Kala này, với chức danh “Missionarium diocesanum pro Montariis in regione Kalensi, Di Linh”

Ngay sau lúc lãnh giấy “bổ nhiệm” tôi đáp xe về thẳng Di Linh, trao cho Cha Sở Giuse Phùng Thanh Quang, và xin ngài đưa tôi vào chào thăm Đức Cha Cassaigne tại Làng cùi, xuống Kala báo tin cho Cha Sở Phêrô Trần Văn Khoa biết, hẹn ngày về nhận công tác.

Ngày 07.7.1969, tôi chính thức về ở hẳn Kala trên một chiếc xe “Lam”, có Cha Đaminh Lãng (sau này làm Giám mục Xuân Lộc), chị ruột tôi và vài người bà con bạn bè đưa chân tôi tận nơi. Sau Thánh lễ ra mắt, chào chúc nhau. Mọi người ra về. Tôi dọn dẹp chỗ ở…

Chiều và tối hôm đó, Cha Khoa và tôi đã chuyện trò tâm sự. Ngày hôm sau, có một cuộc họp nội bộ gồm tất cả chị em Việt Thượng đang phục vụ việc truyền giáo và dạy học. Chung cuộc là Cha Khoa muốn tôi cấp tốc thay thế ngài ở đây. Tôi được mọi người, đặc biệt Cha Khoa, tích cực giúp đỡ để có thể đảm đang công việc, sau vài tháng.

Việc đầu tiên là nỗ lực học tiếng KơHo. Bắt đầu làm quen với mọi việc thường ngày, cả về mặt tôn giáo lẫn xã hội. Đại khái là :

* Tại Giáo xứ : Dạy Giáo lý cho các cộng sự viên và dân chúng nói chung, lo trường tiểu học, vườn trẻ, nuôi các người già và thêm các học sinh nội trú từ xa tới, các lớp học tối, các lớp dạy nghề.

* Ngoài Giáo xứ : Đi thăm viếng các làng xa còn có thể tới được, đặc biệt ngủ lại, dạy Giáo lý, dâng lễ tại các điểm đang có các cộng sự viên trú ngụ. Có làm thêm một nhà nguyện giữa các làng bên kia suối Dariam, gần Nhà thờ Giáo xứ.

* Việc bên lề : Đề xuất với Cha Khoa và qua ngài tới các Trung tâm Truyền giáo tại Di Linh và Bảo Lộc phiên dịch các bản kinh và phụng vụ chung. Được Đức Cha cổ võ và Cha Bề Trên Đậu ủng hộ, công việc được tiến hành kể từ đầu tháng 10.1969. Sau 1975 có gián đoạn, nhưng rồi lại được tiếp tục cho đến hôm nay, qua sự khích lệ và hỗ trợ nhiệt tình của Đức Cha Batôlômêô và Đức Cha Phêrô hiện nay.

Cũng tháng 10.1969, Đức Cha Cassaigne nhờ lên dâng lễ giúp ngài tại nhà thờ Làng cùi các ngày Chúa Nhật và một số lễ trong năm. Sau đó vài tháng là giải tội và cử hành các bí tích khác. Khoảng từ 8 năm gần đây thì không tiếp tục được nữa.

Để hội nhập được vào cộng đồng KơHo có hiệu quả hơn, tôi đã dành hết thì giờ còn lại đi tham dự các cuộc lễ lạt, nhóm họp… của anh em, ghi băng và ghi ký lại tất cả, để tiện bề học hỏi… Công việc này được các bô lão, trưởng tộc, văn nghệ sỹ… tán đồng và giúp đỡ nhiệt tình. Kết quả với tôi là rất tốt đẹp.

Xin ghi thêm vài việc đã làm xong trước năm 1975 :

- Tổ chức hai đợt rửa tội đông người : một tại Nhà thờ Giáo xứ Tân Thanh (28.4.1970), một tại nhà thờ Kala (17.5.1973), do Đức Cha Simon Hòa Chủ sự.

- Giúp Suối Thông (Cha Điềm) sửa chữa cơ sở và mua thêm đất.

- Giúp Lạc Thạnh (Cha Để) làm Nhà Thờ.

- Mua thêm 2 ha đất giữa làng Krot và Kala, mục đích để làm trường học và nhà thờ họ.

- Nâng cấp và mở rộng con đường từ Làng cùi vào Kala (1973).

- Ủi đường và san đất để (Công Binh giúp đỡ) dãn dân cho hai làng Krot (1974).

- Xin dự án ở Ty Thủy nông (qua bộ Sắc tộc) làm hai đập nước dẫn thuỷ nhập điền.

- Mua một số máy cày và một xe chuyên chở nặng để giúp dân làm mùa vụ, chuyên chở nông sản (một phần là dự án COREO)

- Và nhiều việc linh tinh khác…

Một điều cũng đáng ghi nhận : Từ sau tháng 3 năm 1975, tôi còn dâng lễ các ngày Chúa Nhật và Lễ trọng tại Nhà thờ Di Linh Thượng cho tới sau Thánh lễ Giáng sinh năm 1976, mới bị đình chỉ.

 

BẢNG TÓM TẮT

1.     Cha Jean Cassaigne : Vị khởi xướng và điều hành xuyên suốt.

2.     Cha Chauvel, từ 1940

3.     Cha Jacques Dournes, từ 1947

4.     Cha Rubat và Cha Grelier, từ 1951

5.     Cha Grelier và Cha Rubat, từ 1952

6.     Cha Darricau và Cha Rubat, từ 1955

7.     Cha Desplanque và Cha Rubat, từ 1961

8.     Cha Phêrô Trần Văn Khoa, từ 1965

9.     Cha Đaminh Nguyễn Huy Trọng, từ 1969

Cho đến năm nay (2006). Giáo xứ Kala đã tồn tại được 67 năm. Khi kỷ niệm 50 năm thành lập (1990), có Đức Cha Batôlômêô đến chủ sự Thánh Lễ Tạ Ơn. Trao sắc Chúc lành của Toà Thánh và gắn huy chương cũng của Toà Thánh cho ba chị giáo dân truyền giáo đã phục vụ tại đây từ năm 1965 :

1.     Chị Philomena Nguyễn Thị Biển.

2.     Chị Agnès Nguyễn Thị Vâng

3.     Chị Catarina Đinh Thị Nhiệm

 

 

THAY CHO LỜI KẾT.

Trọng kính Đức Cha Phêrô.

Con xin chân thành cám ơn Đức Cha, đã khôn khéo vừa nhắc nhở vừa khích lệ con viết ra những điều trên và nhiều điều khác nữa. Nếu không có Đức Cha hỗ trợ thì tất cả chỉ là những kỷ niệm, những dấu ấn cho riêng con mà thôi.

Các việc Đức Cha dạy con nên làm và gần như bó buộc con phải làm này, trước mắt, nó đã giúp con chín chắn hơn rất nhiều trong việc suy tư, ăn nói và hành xử. Nhưng trước hết và trên hết, con cảm thấy rất thật và rất sâu sắc. Thiên Chúa đã quan phòng tất cả qua các cống hiến hết mình của các tôi tớ mà Ngài đã tuyển chọn và sai đi.

Xin tri ân các vị tiền bối, đã dọn đường, xin cảm ơn các cộng sự viên và tất cả anh chị em Dân tộc đã bảo vệ và giúp đỡ con.

 

Xin xem thêm về giáo xứ Kala

 


Trang Mục Lục
Trở Về Trang Nhà