ĐƠN DƯƠNG - 50 NĂM TRUYỀN GIÁO

Ngày Chúa Nhật cuối tháng Mười sau Khánh nhật truyền giáo đã trở thành Ngày Truyền Thống Anh Chị Em Dân Tộc trong Giáo Phận Đà Lạt. Năm nay, Giáo Hạt Đơn Dương mừng Ngày Truyền Thống Dân Tộc vào ngày thứ Bảy 27/10/2007, đồng thời cũng là kỷ niệm 50 năm truyền giáo cho người Thượng vùng Đơn Dương, dựa vào sự kiện cha Francois Darricau về M’Lon (Thạnh Mỹ) thành lập Trung Tâm Truyền Giáo Thượng M’Lon vào cuối năm 1957. Nhân dịp này, Giáo Hạt Đơn Dương tổ chức Ngày Lễ Tạ Ơn 50 Năm Truyền Giáo dưới hình thức triển lãm, diễn nguyện cùng chia sẻ của những người làm công tác truyền giáo và dâng thánh lễ tạ ơn Thiên Chúa.

I * CHA Fr DARRICAU KHỞI SỰ TỪ TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO THƯỢNG M’LON

Nói đến lịch sử truyền giáo Việt Nam phải nhắc đến một khuôn mặt đáng ghi nhớ là cha Alexandre de Rodhes (tên Việt gọi là cha Đắc Lộ) với việc hình thành chữ quốc ngữ ; và nói đến lịch sử truyền giáo cho người Thượng trong Giáo Phận Đà Lạt phải kể đến công lao của Đức Cha Jean Cassaigne với sự kiện Rửa Tội tiên khởi cho một người đàn bà K’Ho bị phong cùi đang hấp hối ngày 7/12/1927, thì nói đến việc truyền giáo cho người Thượng vùng Đơn Dương phải nhắc đến cha Francois Darricau thành lập thí điểm truyền giáo đầu tiên ở M’Lon năm 1958.

a) Từ một khát mong ánh sáng :

Ngay từ năm 1954, cha Darricau đang phụ trách nhà thờ Dran cho ba cộng đoàn người Việt thì một hôm trên đường từ Dran đến Finôm, cha gặp một nhóm người Churu trẻ ở Diom chặn đường nói với Cha bằng tiếng Pháp về một ước mong có một cha về buôn làng coi sóc vì họ đang ở trong bóng tối nên rất mong được ánh sáng. Cảm động vì tâm tình đơn sơ và khát mong chân chính của họ nhưng Cha không biết phải làm thế nào vì Cha chưa biết tí gì về ngôn ngữ Churu của họ. Cũng trong năm đó, cha Darricau lại đổi về Kala, Di Linh để truyền giáo và học tiếng K’Ho. Sau đó một số cha phó Đà lạt người Việt xuống tiếp cận với người Churu ở Diom để làm công tác miền Thượng như phân phát thực phẩm và thuốc men.

Duyên nợ lại đến vào cuối năm 1957 khi cha Darricau được sai đến M’Lon để thăm dò (chưa ở hẳn), thành lập thí điểm truyền giáo, khởi sự công việc truyền giáo cho người Thượng vùng Đơn Dương (Dran). Ngày 16/7/1958, Đức Cha Gioan Cát Sanh (Jean Cassaigne), đã về khánh thành Trung Tâm Thượng M’Lon (Centre Montagnard de M’Lon). Bận tâm đầu tiên của cha Darricau lúc này là tìm đến với anh chị em Churu ở buôn làng Diom, đáp lại lời thỉnh cầu năm nào : “Chúng con đang sống trong bóng tối, rất mong ánh sáng !”. Cha Darricau đã dựng nhà thờ ở Diom để chiều thứ Bảy thì sang tập giúp lễ, tập hát bằng tiếng Latinh để sáng Chúa Nhật dâng lễ dù rằng ‘giáo dân’ thì chưa được Rửa Tội. Sau thánh lễ là Cha miệt mài trong việc giảng dạy Giáo lý cho bà con buôn làng Diom và các làng kế cận từ năm này sang năm khác mà không vội Rửa Tội ngay. Tuy nhiên, cha Darricau vẫn ưu tiên và đón nhận các em bé sơ sinh gia nhập Hội Thánh.

b) đem đến kết quả đầu tay :

Cuốn Sổ Rửa Tội của Trung Tâm Thượng M’Lon ghi số 1 và 2 là hai em bé người Việt ở M’Lon, và bắt đầu từ số thứ 3 là rất đông các em bé người Churu ở Diom, B’Kè, B’Kăn, Tơnhiang, Diom B (Petit Diom), Kadô rồi mới đến M’Lon, M’Răng, K’răng Go, Labouye …

Em bé số 1 có tên là Maria Câu Thị Nhung sinh ngày 16/4/1958 và được Cha Darricau Rửa Tội ngày 7/9/1958 ở M’Lon. Em bé số 2 là Anna Nguyễn Thị Cường sinh ngày 11/4/1959 và được Cha Rửa Tội ngày 15/4/1959 tại M’Lon.

Em bé số 3 trong cuốn sổ Rửa Tội của cha Darricau là Pierre Touneh Phụng, con ông Pierre Kil K’Se và bà Hélène Touneh Hàn Đào, sinh ngày 19/5/1959 và được cha Darricau Rửa Tội ngày 7/6/1959 tại Diom, và hiện nay đang định cư ở Hoa Kỳ. Cha mẹ em bé này hiện còn đang sống ở Diom, và khai rằng họ đã được Rửa Tội trước đó ở Trung Tâm Thượng Camly Đà Lạt và ở Lạc Lâm. Tiếp ngay sau đó, cũng trong năm 1959, cha Darricau Rửa Tội một loạt cho các em bé ở Tân Hiên (trong Sổ RT ghi là Tơnhiang), B’Kăn (Kan), Diom, B’Kè (N’Kệ), Dran-Nrai ; và các làng này đều được Cha chú thích thêm trong ngoặc là Diom, nghĩa là Cha xem Diom là Giáo Điểm chính.

Và mãi đến ngày 26/12/1959, một số người K’Ho đầu tiên được cha Darricau Rửa Tội tại M’Lon là gia đình ông Jean Ya Ta (SRT số 20 và ghi sinh ngày 28/7/1928, con ông Ya Bo và bà M’Mun), bà vợ của ông là Marie Jeanne H’Gung (SRT số 21, gốc Ban Me Thuột, sinh năm 1930, hiện đã về Ban Mê Thuật), và bốn người con của ông bà (bà H’Gung và ba người con gái  được bà Marie Francoise De Guenyvau đỡ đầu) . Kế đến là gia đình ông Michel Krơng (đã chết) cùng vợ là bà Marie Anne Ka-Del và bốn người con ở Da-Ding. Cũng trong ngày này (26/12/1959), Cha Rửa Tội cho cô Marie-Marthe Ma Chuông, 16 tuổi, và cô này sau đó cùng chồng thường sang Diom đỡ đầu cho nhiều em bé . Thường làm việc mục vụ với cha Darricau ở Diom có anh Joseph K’Sur (giúp bếp, hiện đang định cư ở Diom B), vợ chồng chị Ma Chuông - Thomas K’Bài, sau này thêm anh Jean Ya Ta và anh Michel Krơng ở M’Lon.

Từ năm 1961, các cha thừa sai MEP đã trao vùng Nam sông Đanhim cho các cha thuộc tu hội Vinh Sơn (Cartier, Dulucq, Déthune, Jacques Gros, Berset…), và năm 1962, Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã về làm phép Thánh Tẩy cho một vị Già Làng Churu ở Diom là ông Touneh Hàn Đăng (ông nội [ngoại] của em bé Pierre Touneh Phụng, sở dĩ ông có họ và tên Việt là do chính sách Việt hóa của chính quyền), và chính Già Làng này đã kéo theo năm làng cùng Rửa Tội sau đó (Sổ RT của M’Lon không ghi sổ những tân tòng này vì lúc này Diom đã thuộc trách nhiệm của các cha Lazaristes). Cánh đồng truyền giáo cho người Churu Nam sông Đanhim từ Diom đến Tahine lại được các cha thuộc tu hội Vinh Sơn tiếp tục gieo trồng và gặt hái.

c) để có một vài ghi nhận :

- Như vậy có thể nói cha Darricau khởi sự truyền giáo cho người Churu trước tiên, dù sống ở M’Lon nhưng truyền giáo đầu tiên ở Diom vì công việc ở M’Lon thường được cha giao cho các soeur dòng Phan Sinh (1959); và em bé Pierre Touneh Phụng là Kitô hữu người Thượng đầu tiên (7/6/1959) của Giáo Hạt Đơn Dương khởi sự từ công cuộc truyền giáo của cha Darricau . Em bé tiên khởi Pierre Touneh Hàn Phụng cũng là đại diện cho 3 dân tộc, vì em là người Churu có bố là người K’Ho (Làc) và mẹ là người Kinh (nửa Churu nửa Hoa, con riêng của Touneh Hàn Đăng).

- Cũng có thể nói bà Marie Marthe Ma Chuông là một trong những tân tòng K’Ho đầu tiên (có học giáo lý và có ý muốn theo đạo) ở Đơn Dương được cha Darricau Rửa Tội tại M’Lon, bà còn đang sống ở Thạnh Mỹ (K’Ho gốc Chau Mạ ở Đampao, chồng là K’Bài đã qua đời), rất đạo đức, có tinh thần phục vụ và truyền giáo (theo nhận xét của cha Quản Xứ M’Lon), xứng danh là hoa quả của Ông Tổ truyền giáo Darricau vùng Đơn Dương.

- Một điểm ghi nhận khác nữa cần nhắc đến là trước khi cha Darricau đến truyền giáo ở vùng Đơn Dương thì không phải là vùng này chưa có một người Thượng nào tin Chúa và biết đến đạo thánh của Người. Bằng chứng cho thấy là đã có những người Thượng trở thành Kitô hữu trước năm 1957 nhưng không phải là do công của một vị truyền giáo nào đến vùng đất này :

*Chẳng hạn ông Lucien-Francois Touneh Hàn Thọ làng Diom (định cư ở Mỹ, đã qua đời, anh cùng cha khác mẹ với bà Touneh Hàn Đào) đang khi học ở Lasan Adran thì đã được Rửa Tội ngày 17/2/1955 tại nhà thờ Đà Lạt (Sổ RT số 5377bis, quyển 9). Touneh Hàn Thọ là con của Già làng Touneh Hàn Đăng (một quan chức chính quyền từ thời vua Bảo Đại) và bà Nguyễn Thị Dung.

*Bà Hélène Touneh Hàn Đào, sinh năm 1937, con ngoại hôn của Già làng Touneh Hàn Đăng, cũng do ảnh hưởng của việc học trường Công Giáo, đã trốn mẹ nuôi băng sông Đanhim đến nhà thờ Lạc Lâm xin cha Nguyễn Hữu Kỳ Rửa Tội vào năm 1954 (rất tiếc sổ sách lúc ấy Lạc Lâm đang ổn định việc di cư nên chẳng có chứng từ, tuy nhiên còn một nhân chứng sống là bà Hát ở Lạc Lâm).

*Ông Pierre Kil K’Se, sinh năm 1933, chồng của bà Touneh Hàn Đào, được cha Lefèvre Rửa Tội ở Trung Tâm Thượng Camly năm 1954, và (học giáo lý hôn nhân ở Couvent des Oiseaux một tuần) làm phép hôn phối năm 1955.

*Em bé Maria Touneh Hàn Tuyết, chị của Pierre Touneh Hàn Phụng, con bà Touneh Hàn Đào và ông K’Se, sinh ngày 22/9/1956 và đã được Rửa Tội ở nhà thờ Đà Lạt ngày 4/11/1956. Điều này có nghĩa là bà Touneh Hàn Đào khi sinh đứa thứ hai thì đã có nhà thờ Diom nên xin cha Darricau Rửa Tội và người đỡ đầu cho bé Touneh Phụng là ông Dominique Nguyễn Hải Ái, một quan chức ở huyện Đơn Dương thời đó.

*Đó là chưa kể đến Thạnh Mỹ trước năm 1958, (hình như đã có nhà nguyện, Đức Cha Bình thời còn làm cha xứ Cầu Đất, 1948-1955, đã đến Thạnh Mỹ dâng lễ ) đã có những Kitô hữu người Kinh và chắc hẳn là đã có một ít người Thượng theo đạo, vì họ đạo Thạnh Mỹ kéo dài tới Bắc Hội mà người Thượng vùng Bắc Hội đã được cha Jean Casaigne truyền giáo từ năm 1928; nhưng cũng có thể là chưa vì khi Rửa Tội cho các dự tòng K’Ho năm 1959 thì việc đỡ đầu phải nhờ đến người Pháp (De Guenyvau).

- Trước khi cha Darricau đến truyền giáo ở Đơn Dương (1955-1957) thì đã có các cha người Việt là cha Phêrô Thông ở Cầu Đất và cha Giuse Quang ở nhà thờ Đà Lạt xuống làm công tác xã hội ở Diom nhưng chưa thực sự truyền giáo, chỉ khi cha Darricau đến M’Lon công việc truyền giáo mới mang lại kết quả.

 

c) và mở ra những cánh đồng truyền giáo :

Sau khi bàn giao vùng Nam sông Đanhim cho các cha Vinh Sơn (Lazaristes), cha Darricau tập trung chủ yếu vào người K’Ho ở các làng M’Lon, Nouveau Kadô, M’Răng, Labouye, Dròng, Krăng Gọ, Kađê …; và Cha đã chuẩn bị cho rất nhiều dự tòng đón nhận ơn cứu độ :

- Ngày 9/5/1963, cha Darricau đã tổ chức một lễ Rửa Tội tập thể cho 120 dự tòng Churu và K’Ho ở Nouveau Kađô (Kađô mới, Kadô mhe). Trong thánh lễ đồng tế đó, Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã Rửa Tội cho 28 người, cha Grelier Rửa Tội cho 6 người, cha De Monjour 16 người, cha Giuse Vũ Đình Tân 11 người, cha Moriceau 7 người, cha Grison 7 người, cha Darricau 2 người, cha Rubat de Mérac 17 người, cha Đậu 6 người, cha Kermarrec 10 người, cha Desplanques 6 người, cha Thomas Nguyễn Duy Thể O.P 10 người, cha Pouclet 11 người, cha Giuse Hoàng Công Độ 4 người, cha Thái Franciscain 5 người. Sổ Rửa Tội M’Lon được cha Darricau ghi rõ cha  Rửa Tội của từng người.

- Ngày 19/3/1964, cha Darricau lại tổ chức một lễ Rửa Tội tập thể cho 72 dự tòng K’Ho ở Dròng. Đức Cha Simon Hòa Hiền Rửa Tội cho 10 người , cha Darricau 1 người, cha Roy 11 người, cha Lascenaire 12 người, cha Grelier 11 người, cha Grison 14 người, cha Lefbre Octave 1 người, cha Desplanques 12 người,

- Ngày 25/12/1964, cha Darricau Rửa Tội tại Kađô Mhe (Kađô mới) cho 21 dự tòng Churu và K’Ho.

- Ngày 25/3/1965 có một lễ Rửa Tội tập thể cho 148 dự tòng người K’Ho tại làng M’Răng do Đức Cha Siomon Hòa Nguyễn Văn Hiền cử hành, và trong Sổ Rửa Tội cũng đã ghi rất nhiều cha Rửa Tội : Đức Cha Simon Hòa Hiền đã Rửa Tội 17 người, cha Chang (Salésien) 15 người, cha Cartier 17 người, cha Trần Mạnh Khoa 17 người, Sujérieur Père Salésien 5 người, viện phụ Stephanô Trần Ngọc Hoàng 15 người, F. Eugène-Franciscain 6 người, cha Rubat (MEP) 7 người, cha Thomas Thể OP 13 người, cha Giuse Hoàng Công Độ 10 người, và cha Darricau Rửa Tội 26 người.

- Ngày lễ Giáng Sinh 25/12/1969, Đức Cha Hiền cũng đến Krăng Go cử hành thánh lễ ban bí tích Rửa Tội cho 96 người buôn làng Krăng Go.

- Vài tháng sau, ngày 5/4/1970, cha Darricau lại tiếp tục Rửa Tội cho 143 người làng Krăng Gọ.

- Ngày 12/4/1970, cha H. Jourdain Rửa Tội cho 16 người ở Kadô M’he (mới).

- Ngày 19/1/1971, Đức Cha Simon Hòa Hiền cũng đã về M’Lon ban bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức cho 6 người.

- Ngày 6/4/1971, Đức Cha Hiền lại về tận Labouye ban bí tích Thánh Tẩy cho 108 người K’Ho làng Laboui.

- Ngày 7/5/1972, cha Darricau Rửa Tội cho 20 người ở Krăng Go.  

- Ngày 25/12/1974, cha Darricau đã Rửa Tội cho 99 người K’Ho tại M’Lon.

- Ngày 3/1/1974, cha Darricau đã Rửa Tội 23 người ở Krăng Go.

- Ngày 9/3/1975 cha Darricau Rửa Tội ở Krăng Chớ cho 109 người lớn.

- Ngày 16/3/1975 cha Darricau đã Rửa Tội cho 125 người lớn ở Kađê (Kade), và đây là lần Rửa Tội cuối cùng trước khi cha Darricau rời khỏi Việt Nam do biến cố năm 1975.

Cha Darricau đã ghi Sổ Rửa Tội thật kỹ càng theo đúng Giáo Luật với những ghi chú về từng linh mục Rửa Tội, về trường hợp nguy tử, con ngoại tình, Thêm Sức, Hôn Phối, từ trần của mỗi Kitô hữu. Từ ngày thành lập Trung Tâm Thượng M’Lon đến khi cha rời khỏi Việt Nam, cha đã ghi được 3 cuốn Sổ Rửa Tội với con số thứ tự là 1717 Kitô hữu. Chắc chắn con số tín hữu được cha Darricau hay các cộng sự viên Rửa Tội là con số còn lớn hơn nhiều, vì chưa kể đến các tín hữu Churu vùng Nam sông Đanhim do các cha Vinh Sơn ghi sổ mà bước đầu truyền giáo lại là công gieo trồng của cha Darricau. Ngoài ra cha Darricau đã có công bước đầu là dựng các nhà nguyện tại các giáo điểm để hàng tuần đến dâng lễ và sinh hoạt giáo lý. Đã có tới 23 ngôi nhà nguyện do ngài dựng lên cho các buôn làng.

Nếu ngày xưa cha Alexandre de Rodhes (Ông Tổ chữ quốc ngữ) truyền giáo ở Việt Nam trong 21 năm (1624-1645) đã Rửa Tội được 6700 người thì cha Darricau, một hậu duệ sau hơn 300 năm, cũng 22 năm truyền giáo ở Việt Nam đã đạt được con số gần 2000 Kitô hữu (sổ M’Lon là 1717 cộng thêm ở Dran, Kala rồi Diom) là một thành quả cũng đáng khâm phục.

Cha Fr Darricau, người Pháp, sinh năm 1918 và qua đời năm 1997, đúng là một bông hoa truyền giáo mà Chúa đã ban cho Giáo Hội Việt Nam, cho Giáo Phận Đà Lạt và Giáo Hạt Đơn Dương. Giáo Xứ M’Lon Thạnh Mỹ nói riêng và Giáo Hạt Đơn Dương nói chung,  mãi mãi biết ơn Cha Darricau, người đã khởi xướng công cuộc truyền giáo cho người dân Churu và K’Ho vùng Đơn Dương.

II * NGÀY LỄ TẠ ƠN 50 NĂM TRUYỀN GIÁO NGƯỜI THƯỢNG ĐƠN DƯƠNG :

Ngày Truyền Thống anh chị em dân tộc Giáo Hạt Đơn Dương năm nay được tổ chức tại Giáo Xứ M’Lon-Thạnh Mỹ vào ngày thứ Bảy 27/10/2007, và đã được cha Quản Xứ M’Lon chuẩn bị rất chu đáo. Từ mấy tháng trước, cha Giuse Nguyễn Viết Liêm, Quản Xứ M’Lon, đã phác thảo chương trình với các cha trong Giáo Hạt tại Lạc Viên, rồi một tháng trước ngày lễ, cha đã họp ban tổ chức tại Ka Đơn để phân chia công tác. Ngày lễ tạ ơn năm nay có sự đóng góp của các dòng đã truyền giáo trong Giáo Hạt, đặc biệt là Tu hội Vinh Sơn, hội dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, Nữ Tử Bác Ái, Phanxicô … và dĩ nhiên cũng phải nói đến sự tham dự nhiệt tình của rất đông anh chị em dân tộc K’Ho và Churu, đã làm cho bầu khí ngày lễ tạ ơn thật sinh động.

a) Giáo Xứ M’Lon mừng 50 năm hình thành và phát triển :

Giáo Xứ M’Lon-Thạnh Mỹ nếu tính từ ngày cha Darricau về thành lập Trung Tâm Thượng M’Lon như một Giáo Điểm truyền giáo đến nay đã tròn 50 tuổi, hoặc tính từ thời Đức Cha Bình (1948-1955) về dâng lễ thì đã quá tuổi 50, nhưng xét về việc thành lập Giáo Xứ theo Giáo Luật thì tuổi đời chắc mới non một nửa. Giáo Xứ M’Lon-Thạnh Mỹ rất hãnh diện vì mình là chiếc nôi truyền giáo cho cả Giáo Hạt.

Bữa ăn tối trước ngày truyền thống, 26/10/2007, tại Thạnh Mỹ đã quy tụ các cha, các soeur đã làm công tác truyền giáo tại Đơn Dương hay M’Lon hoặc các cha đã lâu nay truyền giáo cho anh chị em dân tộc trong Giáo Phận, như cha Phạm Minh Thanh …, soeur Giám Tỉnh và các soeur dòng Phan Sinh, Nữ Tử Bác Ái …, các cha trong Giáo Hạt, các đại diện anh chị em dân tộc của các Giáo Xứ, và đặc biệt anh chị em Giáo Xứ M’Lon chủ nhà. Nói chung các thành phần được mời đều là những chứng nhân, hoặc thừa kế hoặc hoa quả, của việc truyền giáo tại Đơn Dương.

Sau lời khai mạc của cha Quản Xứ Thạnh Mỹ chủ nhà, cha Quản Hạt Đơn Dương thay mặt mọi người chúc mừng Giáo Xứ M’Lon-Thạnh Mỹ sau 50 năm hình thành và phát triển, đồng thời chúc mừng sinh nhật cha Giuse Nguyễn Viết Liêm, Quản Xứ Thạnh Mỹ, bước vào tuổi lục tuần, 60 năm sinh ra lớn lên và dâng hiến cuộc đời phục vụ Giáo Hội. Bữa ăn là gạch nối cho những hồi tưởng làm việc truyền giáo, và kết thúc bằng giờ chầu Thánh Thể để cùng tạ ơn Chúa.

b) trùng với lễ hội tạ ơn :

Ngay từ 7 giờ sáng ngày 27/10/07, Giáo Xứ M’Lon cùng các đội cồng chiêng của các buôn làng đã dàn hàng đón tiếp các anh chị em dân tộc đến từ các Giáo Xứ để vào tham quan khu triển lãm, ghi lại chặng đường 50 năm truyền giáo. Có ba phòng triển lãm : Giáo Xứ M’Lon trưng bày những hình ảnh từ lúc phôi thai đến ngày hôm nay, hội dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ cũng có một phòng triển lãm nói về hoạt động của các chị em trong công cuộc truyền giáo, và một phòng triển lãm của Ka Đơn và Giáo Hạt Đơn Dương.

Sau một giờ sinh hoạt múa công chiêng, đúng 8 giờ sáng, mọi người vào nhà thờ tham dự giờ diễn nguyện và chia sẻ. Sau bài hát mở đầu, cha Quản Hạt Đơn Dương nói lời khai mạc về ý nghĩa giờ diễn nguyện với khuôn mặt nổi bật và sáng chói là cha Darricau trong dịp mừng kỷ niệm 50 truyền giáo cho anh chị em dân tộc Hạt Đơn Dương, và giới thiệu tân tòng K’Ho đầu tiên khởi sự từ công cuộc truyền giáo của Cha Darricau.

Lời thưa “Xin Vâng” của Mẹ Maria cũng là tiếng “Xin Vâng” của các nhà truyền giáo đến tận miền đất M’Lon nhỏ bé của đất Việt để loan báo Tin Mừng cho những anh chị em dân tộc thiểu số chưa biết Chúa và đạo thánh của Người. Bài thánh vũ “Từ rất xa khơi” làm sống lại ơn gọi của các vị thừa sai sẵn sàng ra đi với lòng nhiệt thành, yêu mến, chấp nhận mọi thiếu thốn cần thiết và cả sự nguy hiểm để thưa lên : “Vâng lời Thầy, con xin thả lưới”.

Chị Giám Tỉnh Phan Sinh TSĐM cùng các chị Clara và Angela chia sẻ về hoạt động của hội dòng trong những ngày mới đặt chân đến M’Lon theo lời mời gọi của cha Darricau.

Họat cảnh Đức Maria đi thăm viếng bà Élizabeth là mẫu gương đời sống truyền giáo cho các chứng nhân Tin Mừng phục vụ những người nghèo khổ. Cha Phêrô Võ Trung Thành, cha Antôn Nguyễn Văn Chúc và dì Thanh đã say sưa chia sẻ những kinh nghiệm truyền giáo của mình.

Hoạt cảnh yêu thương và phục vụ gợi lên những cảnh đời đen bạc đang cần những ánh mắt biết “chạnh lòng thương” như của Chúa Giêsu để ‘đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục…”. Những chia sẻ của bà Ma Chanh từ hồi còn bé được cha Darricau bắt cóc từ Diom về ở nội trú Phan Sinh M’Lon đã gợi lên những tâm tình thương mến của cha Darricau và các dì Phan Sinh đối với anh chị em dân tộc thiểu số, và mãi mãi biết ơn các cha các soeur truyền giáo đã dọi sáng cho buôn làng.

Bài múa “Gieo mầm tin yêu” là quyết tâm của các nhà truyền giáo, và đã gặt hái được những kết quả khi từng đoàn người từ những cụ già đến những em bé hát vang : “Anõ jăt Bàp Yàng” (tôi theo Chúa). Cha Phaolô Ya Tine, con cái làng Diom, và soeur Nai Luệ (buôn M’Lon) là những hoa quả truyền giáo, đã nói lên cảm xúc của mình khi muốn dấn thân theo bước chân của các nhà truyền giáo khi xưa.

Cha Tổng Đại Diện Phaolô Lê Đức Huân đã nói lên một vài cảm nghiệm cá nhân vì ngài cũng đã từng sống với anh chị em dân tộc. Ai nấy đều ngạc nhiên khi ngài chia sẻ bằng chính tiếng K’Ho và thêm cả tiếng Churu mới học. Nghi thức thắp nến đã khép lại giờ diễn nguyện và chia sẻ để cùng với Đức Giám Mục Giáo Phận dâng lễ như là đỉnh cao của ngày hội tạ ơn.

Trong thánh lễ, Đức Cha mời gọi mọi người cùng tạ ơn Chúa vì những hồng ân lãnh nhận, và cuối lễ ngài nhắn nhủ theo guơng từ bỏ của các nhà truyền giáo và sống tinh thần chia sẻ của bầu khí gia đình Nuớc Trời.

Sau thánh lễ là giờ gặp gỡ tại các bàn cơm và chóe rượu cần trong tiếng ca điệu múa dân tộc đã tạo nên bầu khí lễ hội. Giờ chầu Thánh Thể ngay sau đó đã gói ghém tất cả tâm tình yêu mến và mừng vui trước khi giải tán.

Cây lúa hạt thóc

 

Xin xem thêm hình


Trang Mục Lục
Trở Về Trang Nhà