ĐÔI ĐIỀU GHI NHẬN VỀ NGƯỜI KOHO-NỒP

Vài nét về người Nồp

Nếu có ai đã có dịp đi qua vùng đất nay gọi là Gia Bắc – Sơn Điền, vùng giáp ranh giữa Lâm Đồng và Phan Thiết thì đã có cơ hội tiếp xúc với anh chị em người Nồp, họ chính là dân bản địa đã sinh sống ở miền đất đó đã lâu, không ai rõ từ bao giờ.

Người Nồp là một nhánh của dân tộc Koho nói chung, có thể gọi là một chi tộc của Koho cho dễ hiểu.

Tiếng Koho gọi họ là Cau Nồp, họ có một giọng nói đặc trưng, còn ngôn ngữ thì cùng chung một tiếng nói với các chi tộc khác như Sre, Mạ, Cil, Dala, Kơyòn, Làc …

Ngôn ngữ chung ở đây cần hiểu là các chi tộc này trên căn bản giống nhau, chỉ khác nhau trong giọng đọc và một số từ mang tính địa phương.

Người Nồp  gặp gỡ với Tin Mừng

Trong dòng tộc Koho nói chung, người Nồp cũng đã được các thừa sai tiếp xúc từ rất sớm trong công cuộc rao giảng Tin Mừng cho miền Thượng Đà Lạt, vì khi khởi sự công cuộc rao giảng cho miền này từ năm 1927 thì tuyến đường Phan thiết – Ma Lâm –  Di Linh đi qua các buôn làng của người Nồp, nhưng có lẽ do rất nhiều cản trở về tập tục, ngôn ngữ và hoàn cảnh chiến tranh nên việc đón nhận Tin Mừng của họ diễn ra muộn hơn so với các nhánh Cil, Sre, Làc…

Theo như ghi nhận thì người Nồp xin học đạo, rửa tội và gia nhập Hội Thánh nhiều nhất là vào cuối thập kỷ 80 cho đến nay.

Khi tiếp xúc với người Nồp thì dễ nhận ra cái nét sùng đạo nơi họ, có thể diễn tả một cách đơn sơ rằng :

- Người Nồp khi đọc kinh  cầu nguyện thì có cái nét như thể họ nói chuyện với chính Chúa vậy !

Nói như thế do quan sát và tiếp xúc ban đầu với người Nồp, thấy cái nét đơn sơ và chân thành trong cách biểu lộ ra bên ngoài của họ, chứ không vì đề cao quá đáng. Người ta có thể cho rằng đức tin của họ còn trong giai đoạn mới mẻ, có thể vì chưa gột hết óc dị đoan của quá khứ chăng ? Nhưng có lẽ nên hiểu một cách chính đáng hơn về người Nồp, vì họ vốn là dân có bản chất tin thờ khá chặt chẽ đối với yàng truyền thống của họ.

Họ thờ yàng nhiều chỗ nhiều nơi, trong nhà và trên nương rẫy và tại những nơi qui định chung của làng, họ tuân thủ tập quán thờ cúng khá tỉ mỉ.

Do họ đã thừa hưởng cái truyền thống sẵn có ấy nên đem nó vào tận sinh hoạt của đức tin Kitô-giáo cũng không phải là chuyện lạ.

Sống với họ thì có thể thấy họ dùng nước thánh nhiều hơn cả, làm dấu Thánh giá hầu như mọi nơi mọi lúc, nhiều khi rất đơn sơ và công khai.

Trong bối cảnh chiến tranh trước đây, hầu hết dân Nồp bị buộc phải rời nơi sinh sống truyền thống để đến định cư trong những trại tạm cư lánh nạn gần các quận lỵ, đó chính là cơ hội lịch sử để cho họ tiếp xúc với các cộng đồng dân tộc lớn hơn, đặc biệt với Kitô-giáo, đây chính là yếu tố khởi đầu cho sự đổi mới, và giúp chuyển đổi từ tín ngưỡng cổ truyền sang niềm tin mới.

Đã có một số rất ít gia nhập Đạo Công giáo trước năm 1975 do có điều kiện tiếp xúc với các Linh mục, Tu sĩ, nhưng cuộc trở lại nhiều nhất của dân Nồp được ghi nhận là vào gần cuối thập niên 1980, nghĩa là đã có rất nhiều gia đình học đạo và lãnh nhận Bí tích Rửa tội từ khi ấy.

Nếp sống của người Nồp

Đời sống kinh tế, tổ chức làng xóm, sự liên kết dòng họ của người Nồp rất chặt chẽ. Ngoài ra có thể nhận ra cộng đồng Nồp tại một số nơi định cư mới đổi thay khá nhanh về lề lối sinh hoạt trong gia đình, ngày nay họ ăn Tết như người Kinh, tổ chức đám cưới giống như người Kinh, họ cho rằng như thế là tiến bộ và dễ tương thích hơn với bối cảnh thực tế xã hội thời nay.

Tuy nhiên những nét lớn và chính yếu thì hầu như không thấy thay đổi, ví dụ chế độ mẫu hệ và sự liên kết dòng tộc xóm làng vẫn như cũ, đó là cái nét chung của người Koho nói chung.

Người Nồp thời nay là một dân tộc dễ đi vào con đường hòa đồng, con cái họ có nhiều người lập gia đình với các dòng Koho khác, một số ít hơn thì kết hôn với người Kinh.

Trải qua các biến đổi trong nhiều thập niên qua, dân Nồp có sự đổi mới nhiều. Tuy vậy họ cũng không đổi thay cái bản sắc ngàn đời của họ, xem ra họ chỉ đổi mới cái tùy phụ chứ không đổi mới cái chính yếu trong cái tính cách riêng.

Cái nét riêng đáng quí của người Nồp

Điều đáng nói và đáng trân trọng nhất của anh chị em Kitô-hữu người Nồp là cái bản sắc của họ, cái đó như một dấu ấn không dễ xóa nhòa của tổ tiên để lại, cái bản chất rất tin và rất kỹ cách riêng trong lĩnh vực tín ngưỡng, điều này có thể bị những người bên ngoài coi như một thứ mê tín dị đoan đã ăn rễ rất sâu trong cuộc sống của họ, nhưng nó lại là một yếu tố khá tích cực khi được chuyển đổi sang niềm tin mới.

Dư luận người Thượng thường nói rằng người Nồp nói một là một, nói hai là hai, (dùl lah dùl, bàr lah bàr), có nghĩa là sự trung thành như nói sao thì làm vậy, biết thế nào thì nói thế ấy, hoặc hễ nói là làm, tiếng Thượng còn dùng một lối nói riêng về cái nét này là : buh mơ sa mơ, nghĩa đen là nướng tại chỗ và ăn tại chỗ, nên ngay cả trong người Thượng cũng có thời phải e dè về người Nồp.

Có thể hiểu đó như là những con người bất khoan dung, cực đoan, một chiều….

Tuy nhiên thực tế thời nay cho thấy rằng sự e dè ấy trong dư luận phần lớn là do một thứ thành kiến kiểu vơ đũa cả nắm, thực chất thì không đáng ngại và không đáng kể.

Nhờ sự tiếp xúc giao lưu và nhất là nhờ gặp gỡ Tin Mừng, người Nồp cũng biết hòa đồng trong cuộc sống chung với các dân tộc anh em khác, bất kể đó là Thượng hay Kinh, hơn nữa họ chỉ là một chi tộc nhỏ bé trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung, nên họ luôn khôn ngoan luôn tìm nương tựa nơi các dân tộc anh em mà sống, chứ không tự muốn tự cô lập mình.

 

Vài nét dễ gợi nhớ về người Nồp

Đã gọi là bản sắc thì đó là điều đã được hình thành qua biết bao nhiêu thời đại, nó đã ngấm sâu trong dòng máu, trong cốt tủy, người bên ngoài có muốn bắt chước cũng chẳng được.

Họ có chất giọng riêng, có lời ca tiếng hát nếu nghe qua thì gợi lên hình ảnh về họ và miền đất truyền thống của họ.

Thời xưa khi nghe họ ca mà họ gọi là mprơ, thì ai cũng bắt nghe và nhớ lâu câu này :

Pic lơha tam ja Yalồ, ơ Plôm mơi, ơk !

……………………………………………………………

(Hái lá trầu nơi đồi tranh Yalô, này hỡi anh Plôm hỡi.)

Còn trong sự tương quan với cộng đông Koho thì người Sre thì ưa chọc ghẹo người Nồp rằng :

Cau Nồp cồp cô trơ-è,

Sa kòn bè sa jơh mơ jơng,

Sơng kòn bè sơng jơh mơ wàng.

( Ớ cái người Nồp cái đít tròn tròn,

Hễ ăn con trâu nghé thì ăn hết cả chân cả móng, không chừa lại một thứ gì, 

Hễ giết trâu thì giết hết cả chuồng ăn cho đã.)

Cũng không vừa, người Nồp liền chọc lại rằng :

Kho mê Cau Sre sa be mơ è,

Sa kòn bè sa jơh mơ jơng,

Sơng kòn bè sơng jơh mơ wàng.

(Ớ các anh người Sre ăn con dê thì ăn cả phân,

Sơi con trâu nghé thì cũng sơi cả chân cả móng,

giết con trâu nghé thì cũng giết cả chuồng.)

Gặp nhau có cái mà chọc mà ghẹo nhau rồi phá lên cười cho vui cuộc sống, chứ chẳng thấy ai cho đó nguyên cớ cho sự chia rẽ và kỳ thị bao giờ, dĩ nhiên người ta chỉ chọc ghẹo nhau trong bầu khí thân tình sâu đậm như anh em trong nhà.

Người Nồp cũng có nhiều dòng họ danh giá, làm ăn đàng hoàng, vấn đề hôn nhân và tình nghĩa gia đình dòng họ cũng khá sâu đậm, chặt chẽ.

Thời nay cũng có nhiều người học hành, có thanh thế trong cộng đồng Koho nói chung.

Thay lời kết

Trải qua những chuyển biến của thời thế, nay có thể đã có dấu hiệu thuận lợi khả quan cho công cuộc rao giảng Tin Mừng cho người Nồp, nỗ lực đang được thực hiện từng bước với những dấu hiệu hy vọng, khả quan.

Một số khá nhiều gia đình người Nồp đã đến định cư gần thị trấn từ hồi chiến tranh, nay họ có vẻ đổi thay rất nhiều trong cách sinh sống làm ăn, nhưng còn một số lớn khác vẫn định cư tại những vùng đất hẻo lánh thuộc vùng Gia Bắc – Sơn Điền, đó là những miền đất có lẽ thuộc vào loại khỉ ho cò gáy nhất của miền Đàlạt, nên trong thực tế chẳng có mấy ai đến đó làm gì.

Thời thế nay đã có dấu hiệu thuận lợi cho cánh đồng truyền giáo người Nồp , các buôn làng của họ nằm ngay trên tuyến đường Phan thiết – Di Linh, nay là đường nhựa rộng rãi, sạch sẽ, đã có điện và điện thoại, đến đó chẳng còn cái cảm giác của miền đất heo hút nữa.

Đàlạt đang tái lập Giáo xứ Dà Mròng (Đam Rông) với trên mười mấy ngàn tín hữu sau nhiều chục năm thao thức và chời đợi, nhưng có lẽ GIA bắc – Sơn Điền cũng như Lộc Bắc vùng Bảo Lâm là vùng đất mới, vì tại đó chưa có gì cả ngoài con số tín hữu nhỏ bé mới được gầy dựng sau rất nhiều năm cưu mang và nỗ lực trong khó khăn.

Cái cần có luôn là sự say mê của người rao giảng : say mê Chúa và say mê con người, mẫu mực ấy đã được thể hiện nơi những nhà truyền giáo xưa và nay.

Đã say mê thì mấy núi cũng trèo, mấy đèo cũng qua…

Công cuộc truyền giáo cách riêng cho người Nồp đang vẫy gọi lòng nhiệt thành của những người trẻ trong Giáo Hội chúng ta hôm nay.

 

Lm. Phanxicô Xaviê Brel

06/2008 – Tam Bố – Di Linh


Trang Mục Lục
Trở Về Trang Nhà