VỊ  TÔNG  ĐỒ  CỦA  BÁC  ÁI    YÊU  THƯƠNG

(Bài đã sửa chữa và cập nhật, 11-11-2007)

Ngày Chúa nhật 29.10.2006, Đức Giám mục giáo phận đã chủ sự thánh lễ đồng tế trọng thể với hơn 30 linh mục thuộc giáo hạt Đà-lạt và từ các giáo hạt khác đến, khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 80 Năm Truyền Giáo cho Anh Em Dân Tộc Thiểu Số trong Giáo Phận. Năm Thánh sẽ kết thúc vào lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội năm 2007.

80 năm là thời gian được tính từ ngày người thượng đầu tiên lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy tại vùng đất này: đó là ngày 07.12.1927, áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội; người được rửa tội là một phụ nữ bị bệnh phong cùi giai đoạn chót, tên là K’Trut, và vị giáo sĩ ban bí tích là một linh mục trẻ thuộc Hội Thừa Sai Paris, về nhận nhiệm sở (tại giáo điểm truyền giáo Di-linh) chưa được một năm. Tên Đức Mẹ đã được vị giáo sĩ chọn để đặt cho bà K’Trut. Không đầy hai tuần sau, bà Ma-ri-a K’Trut qua đời. Theo lời kể của vị giáo sĩ, thì trước khi chết, bà Ma-ri-a K’Trut đã nói với ngài : “ Ông Lớn ơi ! Tôi sẽ nhớ đến Ông khi ở trên trời.” Chúng ta hy vọng rằng hiện nay người phụ nữ diễm phúc đó đang ở trên trời. Nhưng có điều chắc chắn là bà  đã giữ lời hứa với vị ân nhân của mình : khi ngài tạm rời Di-linh, sau 14 năm (1927- 1941) hoạt động tại đây, đã có 296 tín hữu người Thượng được ngài rửa tội – gồm 218 người tại Di-linh và 78 người tại Công-hinh, Bảo-lộc; ngoài ra, công trình vĩ đại của ngài, được khắp nơi biết đến, là trại phong Di-linh do ngài thành lập vào cuối năm 1928 và được chính thức công nhận ngày 11.4.1929, lúc ấy đang cưu mang 133 bệnh nhân, tất cả là tân tòng đang dọn mình chịu phép rửa tội.

Vị giáo sĩ đó là ai thì khi đọc những dòng trên đây có lẽ mọi người đã biết. Nhân lễ giỗ thứ 34 của ngài (31.10.1973-2007), xin được góp thêm đôi điều về Vị Tông Đồ của Bác Ái và Yêu Thương.

***

Đức Cha Isidore Dumortier, từ 1924 đến 1940, là vị Đại Diện Tông Tòa của giáo phận Tây Đàng Trong, được gọi là giáo phận Sài-gòn từ năm 1924; chính ngài đã tiếp nhận cha Gioan Bao-ti-xi-ta Cassaigne vào hàng ngũ giáo sĩ của mình khi vị thừa sai trẻ này được sai đến phục vụ tại miền truyền giáo Nam Bộ.

Trong bản phúc trình thường niê1927, ngài đã viết : “ Vừa nhận nhiệm vụ cai quản giáo phận, tôi không dám tìm cách thực hiện ngay ý nguyện tôi đã ấp ủ từ lâu là chăm lo cho những người Thượng trong giáo phận của tôi. Nhưng chính Đấng Quan phòng đã sắp đặt mọi sự, tôi chỉ còn việc làm theo những chỉ dẫn của Người...Người đã lo liệu cho tôi con người mà tôi cần để khởi sự công trình này : một vị thừa sai trẻ, Cha Cassaigne, vừa mới đến Sài-gòn ; trong suốt cuộc chiến (trong chiến tranh thế giới lần thứ I, thanh niên Cassaigne đã bị gọi nhập ngũ, từ tháng 7.1914 đến tháng 7.1918), ngài là một liên lạc viên, nên đã quen với thiếu thốn và cực nhọc. Khi biết được các dự tính của tôi, cha Cassaigne liền xin tình nguyện và ngài vui sướng tột độ khi biết mình được bổ nhiệm.”

Cha cố Giu-se Phùng Thanh Quang  đã nói về việc Đức Cha Dumortier sai Cha Cassaigne đến vùng Di-linh, trong cuốn Lạc Quan Trên Miền Thượng của ngài, như sau : “ Khi vừa lên quyền Giám mục Sài-gòn được một năm, theo lời bàn của Cha Decoopman, Quản lý Tòa Giám mục, Đức Cha Dumortier liền phái người đi xem xét địa thế vùng Di-linh ngay… Đợi cho cha quản lý lo giấy tờ mua lại cơ sở của ông mười Liên xong ngày 13 (ngôi nhà này vẫn còn là nhà xứ Di-linh) thì ngày hôm sau là ngày 14.10.1926, Đức Cha viết bài sai trao cho cha quản lý cầm xuống Cái-mơn cho Cha Cassaigne đang học tiếng Việt tại đó, và kêu Cha cấp tốc về Sài-gòn lo đi nhận thí điểm truyền giáo Di-linh ngay.”

Nhưng do tình hình thời tiết, mãi tới ngày 24.01.1927, Cha Gioan Cassaigne mới đến nhận nhiệm sở được. Hôm đó được coi là ngày khai sinh của thí điểm truyền giáo, sau này là họ đạo Di-linh. Và Cha Cassaigne là cha sở tiên khởi.

Ngài sinh ngày 30.01.1895, tại miền Landes, thuộc địa phận Dax, tây nam nước Pháp, thụ phong linh mục ngày 19.12.1925. Ngày 09.4.1926, ngài rời quê hương, lên tàu sang miền Viễn Đông. Sau gần một tháng lênh đênh trên biển, ngày 05.5.1926, tàu cập bến Sài-gòn. Ngài được Cha Quản lý Decoopman đến đón và đưa về Tòa Giám mục.

***

mặt tại Đà-lạt từ ngày 24 tháng giêng, Đức Cha Dumortier viết tiếp trong bản phúc trình 1927 đã được nói đến trên đây, Cha Cassaigne viết cho tôi lá thư đề ngày 03 tháng hai như sau : ‘Con đã làm quen với người Thượng, lớn có nhỏ có, và đã có những người bạn trong số họ. Không biết là họ thích con hay là thích những điếu thuốc của con nữa ? Dầu sao, họ không sợ khi đến gặp con và con thì rất vui khi tiếp đón họ và học tiếng của họ trong khi nói chuyện.; trong số những người lớn , có một ít nói được đôi chút tiếng việt.’ Tháng bảy vừa rồi, người đồng nghiệp của chúng ta biết được ý định của nhà cầm quyền Pháp là mở một trường học tại Di-linh cho con em người Thượng và (ngài gợi ý) tầng trệt của nhà ngài có thể dùng làm địa điểm. …đề nghị được chấp thuận và nhờ sự can thiệp thuận lợi của quan Toàn Quyền, Cha Cassaigne đã được phép mở một trường học tại Di-linh…”

Phần Cha Cassaigne, thì trong một lá thư đề ngày 16.8.1928, ngài đã viết như sau về những ngày tháng đầu tiên sống giữa người Thượng Di-linh : “ Chẳng bao lâu nữa là tròn một năm từ khi tôi đến nơi vùng núi rừng này, với chút ít hành trang tiếng việt học trong 8 tháng và mù tịt về ngôn ngữ của các con chiên mới của tôi. Một căn nhà xinh xắn bằng gỗ, một trệt một lầu, sẵn sàng chờ tôi. Nhưng chỉ có chừng đó. Trong sáu tháng đầu, tôi phải dâng lễ trong một căn phòng nơi “cái nhà” của tôi, với một cái bàn đơn sơ làm bàn thờ và chú bé đã theo tôi từ Nam bộ, thường hay bị sốt rét; nhiều lúc tôi chỉ có các thiên thần trên trời vừa là người giúp lễ vừa là người dự lễ… Khi đến Di-linh, tôi gặp được ở đây 3 tín hữu người Việt; với người bếp và chú bé của tôi, vậy là có 5 người, đủ để chiếm trọn căn phòng nhà nguyện của tôi. Không nhiều, nhưng cũng đã là một cái gì rồi, và áp dụng lời dạy của Thánh Ca-rô-lô Bô-rô-mê rằng một linh hồn là một địa phận đủ lớn cho một giám mục, tôi cảm thấy mình rất hạnh phúc… Công việc đầu tiên của nhà truyền giáo được sai đến giữa những người bản địa là học tiếng của họ… không phải trong sách vở, vì chẳng có những thứ này, nhưng bằng cách nói chuyện với họ, điều này thú vị hơn là chia động từ hay lật các trang của một cuốn tự điển. Chiều về, ngài góp nhặt những từ đã học hoặc đã nghe trong ngày, và  … lập cuốn tự điển cho riêng mình.”

Công việc tiếp theo của nhà truyền giáo là chữa bệnh. Chúng ta hãy đọc tiếp : “ Rồi nhà truyền giáo trở thành thầy thuốc, và nhờ vài vị thuốc thông dụng, ngài đã chiếm được lòng tin của những con người bản địa tốt lành, những con người cho đến lúc đó chỉ biết cậy nhờ vào các “Bo-yau” (Thầy mo) của họ… Vì thuốc của tôi công hiệu hơn các chỉ dẫn của các “Bo-yau”, nên con cái tốt lành của tôi hằng ngày đến xin băng bó các vết thương và chữa các bệnh linh tinh của chúng…”

Tiếp xúc với người Thượng, học tiếng của họ, dạy học và chữa bệnh cho họ, đó là những công việc thường ngày của Cha Cassaigne từ khi ngài tiếp nhận điểm truyền giáo Di-linh. Nhưng xem ra trường học của ngài cũng gặp những trớ trêu như ngôi trường của Cha Nicolas tại Đà-lạt gần mười năm về trước. Cha Quang cho biết : “ …việc dạy dỗ lũ trẻ thì…  hết sức vất vả. Chúng như những con dê con, thích chạy, thích nhảy, thích đi long rong ngoài bụi ngoài bờ, ít khi chịu ngồi yên trong lớp… Học sinh trốn học ở nhà là chuyện thường.”  Trong lá thư đề ngày 16.8 trên đây, Cha Cassaigne cũng nói đến những khó khăn vất vả trong việc truyền đạt kiến thức cho con em bản địa; ngài viết : “ Dạy học cho lũ con nít bản địa không phải là chuyện dễ; cha mẹ chúng, ông bà chúng … không bao giờ biết, cũng như không bao giờ nhận thấy lợi ích của việc biết chữ … ngôn ngữ của họ là để nói chứ không phải để viết. Tuy nhiên, phải bắt đầu từ chính chỗ này, và vì không nên quá tin tưởng vào sự hiếu học để lôi cuốn đám học trò nhỏ, nên mỗi ngày vài bát cơm nóng sẽ là phần thưởng cho những em siêng năng và thu hút những đứa khác … đối với những chú Thượng con, cần có cơm, và một bát cơm thì được nuốt nhanh hơn là một trang chữ.”

Sau những mò mẫm kiên trì, Cha Cassaigne cũng đã soạn được một cuốn sách giáo lý nhỏ và đã dịch được một ít kinh quen dùng sang tiếng Ko-ho. Để có thể hội nhập hoàn toàn vào xã hội của người bản địa, Cha Cassaigne còn tìm hiểu và ghi chép những phong tục tập quán của họ. Những nghiên cứu này, ngài đã thuyết trình trước các nhà đương cuộc hoặc đăng trên các tạp chí, như tạp chí “Education – Giáo dục”.

Công việc thì bề bộn và vất vả như thế, nhưng sức khỏe của nhà truyền giáo thì thật là đáng ngại. Chính Cha Cassaigne thì hình như không bao giờ nói đến các bệnh tật mà ngài mắc phải khi ở Di-linh. Chúng ta chỉ thấy ngài viết về bệnh sốt rét và bệnh phong mà người khác là nạn nhân được ngài cứu chữa. Nhưng Cha Phùng Thanh Quang đã dành nhiều trang trong cuốn Lạc Quan Trên Miền Thượng (LQTMT) của ngài để nói đến căn bệnh sốt rét quái ác đã tấn công nhà truyền giáo. Ngài viết : “ Cuộc đời đau ốm liên lỉ của Đức Cha Cassaigne là điển hình rõ rệt nhất của loại sốt rét này. Cha Cassaigne đến Di-linh được hai tháng thì thần sốt rét đã lù lù đến viếng nhà xứ. (Trước tiên, ông bếp già, rồi đến Nhân, chú bé đã đi theo Cha Cassaigne từ Cái-mơn, bị cơn sốt hành hạ.) … Ngày 14.11.1927, Cha Cassaigne ngã bệnh thực sự…. Cha nằm li bì cả tuần lễ không ăn uống. Vẻ tráng kiện thanh xuân tàn lụn nhanh chóng trong vòng một tháng sau. Ngài bắt đầu ốm yếu, xanh mét, và cứ đau đi đau lại như thế trong suốt 14 năm làm cha sở Di-linh… Thế mà Cha Cassaigne cố giấu không dám cho Bề trên biết, cũng không bao giờ xin đi nằm nhà thương, vì sợ bị bắt buộc phải thuyên chuyển đi nơi khác. Nhiều khi thấy vắng ngài lâu quá thì các cha sở ở gần, như cha Barret ở Phan-thiết, cha Nicolas ở Đà-lạt, phải tới thăm coi ngài ra sao thì mới hay ngài đang trùm chăn kín mít trong giường, đau cả tuần mà không ai hay, cả ông bếp già điếc, cả chú Nhân cũng đau hết một lượt, không còn ai lo cơm cháo gì. Nhưng khổ một điều là không ai khuyên được ngài đi nhà thương, vì ngài nhất định ở lại với nhóm con chiên nhỏ bé của mình với bất cứ giá nào… (Trong thời gian xây dựng làng cùi và vận động chính quyền công nhận) Ngài vẫn sốt rét liên lỉ. Ngay khi tổ chức lễ ra mắt làng cùi xong, ngày 11.4.1929, thì ngài nằm liệt giường, đến nỗi cha Nicolas phải đem xe từ Đà-lạt xuống bốc ngài đi nằm nhà thương. Nhưng cũng như bắt cóc bỏ dĩa, vừa hơi mạnh là Cha Cassaigne trốn về Di-linh, viện cớ rằng mắc lo cho bệnh nhân đang nằm ở đó không bỏ được…”. Phải đợi đến khi có lệnh của Bề Trên Cả bắt buộc ngài phải đi chữa bệnh, ngài mới chịu để cho đưa về Sài-gòn, sau đó sang Pháp. Đó là vào đầu tháng tư năm 1932. Cha Henri Sion được cử lên Di-linh thay thế ngài. Sau 9 tháng tĩnh dưỡng tại Pháp, ngày 22.02.1933, Cha Cassaigne trở lại Sài-gòn. Mười hôm sau, ngài trở về với đoàn chiên của mình (Cha Sion đã được bổ nhiệm làm cha sở Thủ Dầu Một). Nhưng cơn bệnh quái ác vẫn không buông tha ngài : chỉ hai tháng sau ngày trở về Di-linh, ngài lại lên cơn sốt rét, phải lên nằm nhà thương Đà-lạt cả nửa tháng mới tạm ổn để bắt đầu làm việc trở lại.

Tuy đau yếu như thế, nhưng Cha Cassaigne luôn cảm thấy như bị thiêu đốt trong lòng bởi tình thương ngài dành cho người Thượng. “Ngài mê say người Thượng, yêu thương người Thượng nhiều khi gần như quá trớn, nhất là lúc ngài đã cao niên”, theo sự nhận xét của Cha Quang. Thật là một ơn đặc biết Chúa ban cho ngài. Nhưng không phải ngài chỉ dành sự quan tâm cho người Thương mà thôi. Đúng hơn, tinh thần truyền giáo nơi ngài thôi thúc ngài hoạt động cho tất cả mọi người để họ được ơn cứu rỗi, bất luận là kinh hay thượng. Vì thực tế, ngài đã không thành công lắm với người Thượng trong những năm đầu. Ngoài con người khốn khổ bị bệnh phong cùi giai đoạn chót mà ngài đã rửa tội vào ngày được Giáo phận chúng ta chọn làm khởi điểm của 80 năm truyền giáo cho người dân tộc thiểu số, như đã nói ở đoạn đầu, thì ngài chỉ có được một tân tòng người bản địa đầu tiên sau gần ba năm nỗ lực dạy dỗ, yêu thương, giúp đỡ, chữa cho lành các bệnh tật, thậm chí qui tụ lại để cưu mang chăm sóc (trường hợp những người phong cùi bị dân làng xua đuổi) : đó là anh Giu-se K’Brai. Về sự kiện này, chúng ta đọc được trong cuốn Lạc Quan Trên Miền Thượng  những dòng sau đây : “ Cha Cassaigne sung sướng hãnh diện làm báo cáo kết quả truyền  giáo lên Đức Cha Dumortier, vị Giám mục chỉ có một khát vọng là đem ánh sáng Phúc Âm đến cho mọi kẻ nghèo khó, nhất là đồng bào Thượng trong địa phận mình…Nào ngờ khi nhận được thư hồi âm của Đức Cha Sài-gòn, Cha nôn nao đọc với điệu bộ hí hởn vui mừng, bỗng dưng mặt ngài tái lại, nét da xanh mét lại càng xanh mét thêm rõ rệt hơn. Trong thư, Đức Thầy khiển trách nặng nề, cho rằng rửa tội quá vội vàng, ngài phê rằng : ‘ Thượng mà cho theo đạo có một người, thì chỉ có Chúa mới biết trước được nó sẽ giữ đạo bền hay không.’ Như vậy là Đức Cha gián tiếp ra lệnh phải cố gắng gấp hai để cho gia đình K’Brai và bà con thân thuộc của anh ta cũng nhận ánh sáng Phúc Âm để họ nâng đỡ nhau giữ vững đức tin.”. Và Chúa đã thêm sức cho nhà truyền giáo để ngài cố gắng nhiều hơn. Kết quả là vào dịp lễ Giáng sinh năm đó, cả gia đình anh K’Brai gồm 8 người đã lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Rồi nhờ sự trợ giúp của người tân tòng nhiệt tình và ngoan đạo này, con số người Thượng dự tòng năm 1931 lên đến 98 người.

Trong bản Phúc trình 1930, Đức Cha Dumortier đã viết những dòng sau đây, như gián tiếp ca ngợi các hoạt động của nhà truyền giáo : “ Ước gì Chúa cho các ngôi nhà thờ và các trường học của chúng ta luôn trở nên bé nhỏ và bắt buộc chúng ta phải nới rộng và xây dựng thêm mãi ! Nguyện ước này trở nên hiện thực nơi Cha Cassaigne : người bạn của chúng ta đã nối dài nơi phượng tự của mình và còn thấy cần phải nới rộng hơn nữa. Là vì, bị chinh phục bởi lòng nhiệt thành và tình bác ái của ngài, người bản địa bắt đầu xin theo đạo. Ngài đã rửa tội và ban phép Thêm sức cho người tân tòng đầu tiên vào dịp lễ Thánh Giu-se, và nhiều gia đình đang xin trở lại. Ngoài ra, nhờ sự giúp đỡ của nhà cầm quyền, ngài đã lập một làng cùi. Chính ngài chăm sóc những con người khốn khổ này, và bằng một sự dạy dỗ vừa tầm của họ, ngài chuẩn bị cho họ được chết trong tư cách là người tín hữu…”

Khi Cha Cassaigne tạm rời Di-linh để về Pháp chữa bệnh, họ đạo Di-linh của ngài, 5 năm sau ngày thành lập, đã trở nên lớn mạnh một cách đáng kể : số giáo dân từ 5 người lúc đầu nay lên 109 người, gồm 60 người Việt, 31 người Pháp và 18 người Thượng; ngoài ra còn có 98 dự tòng.

Đến lần thứ hai tạm rời Di-linh để nhận sứ mạng cao cả là làm Giám mục giáo phận Sài-gòn, kế nhiệm Đức Cha Dumortier qua đời ngày 16.01.1940, “sau 14 năm lãnh đạo xứ Di-linh, từ 1927 đến 1941, Cha Cassaigne đã gầy dựng cho vùng này một địa vị đáng kể trong cộng đồng Hội Thánh” (LQTMT) : ngoài họ đạo Di-linh đã có nhà thờ hẳn hoi, với số giáo dân là 367 người (134 Kinh, 218 Thượng, 15 Pháp), chưa kể 78 giáo dân Thượng ở làng cùi và 133 dự tòng, phải kể thêm họ nhánh Bắc-hội được ngài thành lập năm 1928, họ nhánh Xuân-trường (Cầu Đất), họ nhánh Công-hinh (Bảo-lộc), cả hai nơi được ngài thành lập năm 1936.

Trong bài tham luận nhan đề “Truyền giáo ở Đà-lạt”, được đọc tại khóa thường huấn của Linh mục đoàn giáo phận Đà-lạt năm 2004, Cha Giu-se Võ Đức Minh, nay là Giám mục phó Nha-trang, đã viết : “ Bước đường truyền giáo của Cha Cassaigne thật là lạ lùng…(Ngài) đã mở ra cánh đồng truyền giáo trên vùng cao nguyên Đà-lạt, Di-linh, Bảo-lộc. Chúng ta thật ngỡ ngàng khi thấy một con người như thế được sai đến vùng đất mà hầu như chưa ai biết Tin Mừng của Chúa, để rồi sau đó mở mang đạo thánh Chúa không những ở vùng Di-linh, Ka-la, mà còn lan rộng đến Bắc-hội ở vùng Fimnom, lên tới Xuân-trường, nay là giáo xứ Cầu-dất, trải dài đến Công-hinh, tức giáo xứ Bảo-lộc ngày nay … Ngài đúng là ‘Ông Tổ các vị Thừa sai truyền giáo Thượng đầu tiên của Đà-lạt’, như lời Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền.”

Vào đầu năm nay, 2007, giáo xứ Di-linh kỷ niệm 80 năm thành lập giáo xứ. Một tập kỷ yếu nhỏ được biên soạn để đánh dấu sự kiện này. Tập kỷ yếu đó cho biết “Cha Cassaigne đã đi đến rất nhiều làng của người bản địa để truyền giáo. Nếu lần theo sổ Rửa tội của Giáo xứ Di-linh từ năm 1927 đến ngày 13.5.1941, là ngày ngài rời Di-linh để đi nhận chức Giám mục giáo phận Sài-gòn, cha Cassaigne đã rửa tội cho 280 người Dân tộc thuộc 82 làng khác nhau. (tiếp theo là danh sách của 82 làng của người bản địa). 82 làng Dân tộc có mặt rộng khắp trên phần đất của tỉnh Lâm-đồng hiện nay – từ Đà-lạt qua Ryôngto, Đơn-dương, Di-linh, Bảo-lộc, có một số địa danh hiện nay không thuộc tỉnh Lâm-đồng nữa.”

Đến đây, ta có thể nói Cha Cassaigne đã hoàn tất sứ mạng truyền giáo mà ngài đã được giao phó. Đó cũng là uớc nguyện mà ngài đã ấp ủ khi gia nhập Hội Truyền Giáo Paris. Nhưng tâm hồn đầy ắp tình thương của ngài đối với các linh hồn còn đưa ngài đi xa hơn, đi đến với những con người bị xã hội ruồng bỏ, bị gia đình và bản làng xua đuổi, những con người ngài gặp sống vất vưởng trong rừng, trần truồng, đói khát, lở loét, thối tha…Và ngài đã chọn phục vụ hạng người này. Vì vậy danh hiệu đúng nhất dành cho ngài phải là “Tông đồ của người phong cùi”.

***

Trong lá thư của Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục giáo phận Đà-lạt, gửi Cha Giu-se Phùng Thanh Quang, đề ngày 22.02.1973, để chuẩn nhận và giới thiệu cuốn sách mà chúng tôi đã trích dẫn nhiều lần ở trên - “Lạc Quan Trên Miền Thượng” – có đoạn viết :

“Năm 1965, trong khóa IV Công Đồng Va-ti-ca-nô II, nhiều Nghị Phụ trầm trồ ca tụng cử chỉ cao đẹp của ĐHY Léger, TGM Montrea (Canada), sắp xin từ chức, sang giúp người cùi ở Phi-châu. Tôi khiêm tốn đáp thưa : Bên Việt-nam chúng tôi, đã 10 năm nay, có một vị Giám mục đang làm Cha xứ, Giám đốc và Y tá một trại cùi ở địa phận Đà-lạt chúng tôi. Các Nghị phụ bỡ ngỡ, vì một biến cố như vậy, mà không mấy ai hay biết.”

Tháng 10.1929, Cha Cassaigne đã viết một bản tường trình trong đó có đoạn về trường hợp của những người phong cùi như sau : “ Nhà truyền giáo vĩ đại Giê-su đã làm gì trong cuộc đời trần thế của Người ? Người rao giảng Nước Thiên Chúa, bẳng Bác Ái và Yêu Thương; Người lôi kéo các trẻ nhỏ đến với Người và Người chữa lành các bệnh nhân, nhất là những người phong cùi. Nơi người bản địa, hạng người này thì đông lắm; họ bị bỏ mặc với nổi thống khổ của họ, và khi họ không còn đi đứng, hay lao động được nữa, vì chân tay của họ đã bị thối rửa, họ chỉ còn chết đói. Xin cho phép tôi kể một ví dụ. Trong số những con người bị bỏ rơi đó, có một anh chàng ở cách chỗ tôi khá xa, anh ta thường đến nhận phần gạo và cá khô của anh một cách đều đặn. Vì anh đi lại quá khó khăn, tôi nhờ người ta dựng cho anh một cái lều tranh bên cạnh nhà tôi ở; anh ta ở lại đó một đêm trước khi trở về làng… Đến mùa nóng bức, cũng là mùa có những cơn sốt rét cao, người cung cấp lương thực, trong suốt ba tuần lễ, không rời nhà được mà phải nằm li bì vì cơn bệnh quái ác hành hạ. Phần người được cung cấp lương thực, vì không còn đi lại được, nên không đến. Lo lắng vì sự vắng mặt kéo dài này, và lợi dụng một lúc hạ sốt, tôi lên đường đi tìm con chiên khốn khổ của tôi. Đến nơi, tôi không thấy anh ta trong căn lều tồi tàn trống hoác của anh, và người làng cho tôi biết anh đã chết được bốn ngày; vì không có cha mẹ, không có con cái, nên chẳng ai lo cho anh ta ăn uống, và anh đã chết mà không nhận được phép rửa tội, trong khi anh đã sẵn sàng. Lòng nặng trĩu, nhà truyền giáo trở về nhà, đau đớn không phải vì cơn sốt rét hành hạ mà vì đã đánh mất một linh hồn…Ở Trung kỳ cũng như ở Nam kỳ, và hầu như khắp vùng Đông Á, có những làng cùi nơi đó bệnh nhân phong cùi được đón nhận và được chăm sóc; nhưng nơi xứ thượng này, chưa ai làm gì cho họ cả. Mà họ thì đông vô kể; mỗi làng đều có năm ba người; họ sống với gia đình bao lâu còn có thể làm việc được; nhưng rồi mau chóng bị loại trừ khi họ trở thành một miệng ăn vô ích và một vật ghê tởm…Tôi ao ước được qui tụ tất cả những con người khốn khổ đó trong một ngôi làng chỉ dành cho người phong cùi mà thôi, để có thể lúc nào cũng có họ bên mình, chăm sóc cho họ dễ dàng hơn, dạy dỗ họ đều đặn hơn và nhất là để không một linh hồn bất hạnh nào đi vào thế giới bên kia mà không mang theo cái thẻ vào thiên đàng…Bạn đọc thân mến, xin hãy giúp vị thừa sai trẻ chữa lành ít nữa là linh hồn của những người phong cùi bất hạnh của ngài !”

 Chính Cha Cassaigne đã thuật lại việc hình thành làng cùi như thế nào, trong bản tường trình tháng 10.1937 :  Khoảng cuối năm 1928, trong một chuyến đi qua rừng, nhà truyền giáo tình cờ gặp một đám người phong cùi đã bị đuổi ra khỏi làng và đang náu ẩn trong một góc rừng. Họ không khiếp sợ khi thấy nhà truyền giáo; trái lại họ đã kêu lên với ngài tiếng kêu đã vang lên trên các nẻo đường xứ Ga-li-lê khi Thầy Chí Thánh tiến đến gần họ : Cha ơi, xin thương xót chúng tôi !” Sau khi được trao đổi ý kiến, nhà cầm quyền Pháp đề nghị tài trợ; còn nhà truyền giáo thì đóng góp các khả năng chữa bệnh mà ngài đã thu thập được trong trận đại chiến, cùng với tấm lòng nhiệt thành của mình. Công việc được thỏa thuận. Việc sắp đặt diễn ra nhanh chóng và, ngày 11.4.1929, 21 bệnh nhân – ôi những bệnh nhân khốn khổ ! mình đầy vết thương, dơ bẩn, đói khát và sợ sệt – trở thành chủ nhân của căn nhà tồi tàn này. Họ kinh ngạc khi thấy Ông Cha phân phát cho mỗi người mền, chiếu, quần áo mới và một phần ăn quá ư đầy đủ; họ không thể tin rằng tất cả những thứ đó là cho họ; vài người còn từ chối; họ sợ và tự hỏi tại sai người ta cho họ nhiều thứ như vậy. Người ta sẽ đòi lại cái gì đây ? …Nhưng sự do dự của họ không kéo dài : vài ngày sau, một nhóm người phong cùi khác xuất hiện trong tình cảnh tương tự như nhóm trước… Số bệnh nhân tăng dần : từ năm 1935, con số đó vượt lên trên một trăm.”

Và làng cùi đã được hình thành như thế. Vị trí của làng nằm cách nhà xứ Di-linh khoảng trên dưới một cây số. Điểm đặc biệt của làng cùi này được Đức Cha Gioan Cassaigne mô tả trong một bài thuyết trình của ngài tại Sài-gòn ngày 03.01.1943, và được Cha Giu-se Phùng Thanh Quang trích dịch trong cuốn sách của ngài : “ Làng cùi Di-linh không phải là một nhà thương, cũng không phải là khu biệt cấm dành riêng cho bệnh nhân truyền nhiễm với những luật lệ nghiêm khắc. Đây là một ngôi làng với dân cư được chọn lọc kỹ, một vùng đất sống của người Thượng phong cùi. Làng thượng này có tổ chức chu đáo, có nhà rộng, có phòng phát thuốc, phòng chiếu phim và nhà thờ hẳn hoi. Cũng có công viên, có đường sá được tu bổ giữ gìn kỹ lưỡng. Trưởng làng là một ông Thượng phong cùi; ông ta đứng ra lo an ninh trật tự cho ngôi làng nhỏ bé đó. Nhà cửa được cất theo kiểu người Thượng., ngĩa là nhà sàn, lợp tranh, cất riêng nhau thành nhiều chòi nhỏ, mỗi chòi chứa vài bệnh nhân đã được tự do lựa chọn nhau để sống chung cho vui vẻ… Trong làng này, người phong cùi sớm tối có nhau, được săn sóc, được an ủi, được nuôi dưỡng tử tế, tránh được những hiểm nguy của kiếp sống cô đơn nơi rừng vắng …Người cùng cảnh ngộ, cùng một mối ưu tư lo nghĩ về số kiếp bạc bẽo, thường sống với nhau rất thuận thảo.

Như lời Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền đã nói trên đây, tại làng cùi Di-linh, người điều hành tổng quát, người chăm lo đời sống tinh thần, người lo nuôi sống thể xác và băng bó các vết thương cho bệnh nhân cũng chỉ là một :  Cha Gioan Cassaigne. Hằng tuần, ngài đến làng cùi 3 lần để chữa bệnh và phát thuốc. Những người bệnh nặng không tới phòng phát thuốc được thì được ngài đến chăm sóc tại chòi của họ. Và mỗi tuần một lần, vào ngày thứ bảy, ngài đến phân phát lương thực cho dân làng : gạo, cá khô, muối, thuốc hút. Từ tháng chín 1937, có các chị Nữ Tử Bác Ái đến tiếp tay với ngài, một nữ tu người Pháp và hai nữ tu người Việt. Như những người mẹ, các chị sẽ cúi xuống trên những vết thương của những người con bản địa khốn khổ, còn người cha thì chuyên lo chữa các vết thương linh hồn và lo cái ăn cho thân xác của họ.

Trong lời kết của bản tường trình tháng 10.1937, Cha Cassaigne đã viết : “ Người đàn bà phong cùi đầu tiên, về thiên đàng cách đây 10 năm, đã giữ lời hứa. Còn tôi thì tin vào Mầu nhiệm Các Thánh Thông Công.”

 Như chúng ta đã biết, ngày 24.02.1941, Cha Cassaigne nhận được quyết định bổ nhiệm ngài làm người kế vị Đức Cha Dumortier. Bốn tháng sau, ngài rời Di-linh đi nhận nhiệm vụ mới tại Sài-gòn. Xa rời đàn con bất hạnh của ngài trong hơn 14 năm, ngày đêm ngài hằng nhớ tới họ ...và hình như ngài chỉ mong sao có ngày được đoàn tụ lại với họ. Và ngày đó đã đến thật ! Chúng ta hãy đọc những gì được ghi lại trong Bản tin MEP tháng giêng 1956 về những ngày cuối cùng của Đức Cha Gioan Cassaigne tại Tòa Giám mục Sài-gòn:

Từ đầu năm 1947, sức khỏe của Đức Cha Cassaigne xấu đi rõ rệt. Thêm vào bệnh sốt rét cũ , và chứng suy gan của ngài, là sự giảm chất vôi cột sống rất đau đớn; và trên tất cả còn có một mối đe dọa : năm 1943, người ta đã tìm thấy trong cơ thể của ngài “vi trùng Hansen”.

Ngày 19.12.1954, kỷ niệm giáp năm thụ phong linh mục của ngài, Đức Cha khám phá trên cẳng tay, hơi xa cổ tay một chút, một vệt màu hồng. Ngài lấy kim chích vào chỗ da đó thì không cảm thấy đau đớn gì cả, và cái vệt kia ngày càng lan rộng ra.

Ngày 24.02.1955. Đức Cha đi gặp các bác sĩ thuộc viện Pasteur Sài-gòn. Kết quả xét nghiệm là : “ Phong cùi dạng lao thần kinh !” Nhưng các bác sĩ nói thêm : “ Ngài đừng thay đổi gì trong các hoạt động và thói quen của ngài. Bệnh của ngài không lây !” Họ áp dụng cho ngài một cách điều trị có nguy cơ làm giảm hồng huyết cầu trong cơ thể.

Ngày 05.3.1955, Đức Cha Cassaigne viết thư cho Đức Cha Lemaire, Bề trên Cả Hội Truyền Giáo Paris để xin phép gửi lên Tòa Thánh đơn từ chức Đại Diện Tông Tòa Sài-gòn và về hưu tại làng cùi Di-linh.

Ngày 15.7.1955. Sau nhiều lần nằm điều trị tại Nhà thương Grall, Đức Cha Cassaigne viết thư cho Đức Cha Dooley, Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông dương, để xin từ nhiệm và về hưu tại làng cùi Di-linh, tại đó ngài còn có thể phục vụ và tự chữa bệnh, mà “ không làm phiền ai và cũng không trở nên gánh nặng cho ai.”

Thứ Hai, 10.10.1955 (Áp lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa), lúc 4 giờ chiều, Đức Cha Cassaigne  thân tình thổ lộ  cho Cha Phát, quản lý của ngài : “ Từ giờ phút này, tôi không còn là Giám mục của Cha nữa … Chúng ta chấm dứt làm chủ tòa giám mục này ! Cố gắng đừng làm gì bậy nữa.” Chắc ngài mới nhận được tin Rô-ma chấp thuận đơn từ chức của ngài.

Cuối tháng 10.1955. Đức Cha Cassaigne trao vào tay Đức Cha Nguyễn Văn Hiền , người kế vị của ngài, quyền Đại Diện Tông Tòa Sài-gòn.

Thứ Tư, 30.11.1955. Lễ tấn phong Giám Mục của Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền. tại Sài-gòn.

Thứ Bảy 03.12.1955. Đức Cha Cassaigne vĩnh viễn rời tòa giám mục Sài-gòn để trở lại Di-linh sau 14 năm 6 tháng (24.6.1941-03.12.1955) ở trên ngai giám mục.”

Cha Phan-xi-cô Daricau, một linh mục MEP, đã viết về sự kiện Đức Cha Cassaigne trở lại làng cùi Di-linh như sau : “ Ngài đã về và đã được đón tiếp trọng hậu, tôn kính. Nhưng nhà chưa xây ngay được nên ngài đã đến ở chung với tôi tại Ka-la, cách trại phung hai cây số. Nhà xứ của tôi nhỏ, không cung cấp nổi cho ngài một căn phòng riêng. Ngài cũng không muốn lấy phòng của một đồng nghiệp. Chúng tôi lấy tấm màn ngăn phòng ăn làm đôi, một bên là giường nhỏ của ngài, một bên là cái bàn ăn. … Suốt trong sáu tháng, chúng tôi có niềm vui được sống chung với nhau. Sau đó ngài tới sống tại căn nhà dành riêng cho ngài ở trại cùi. Nhưng trưa nào ngài cũng về Ka-la dùng bữa với tôi, khẩu phần có khá hơn trong trại. … Bao nhiêu sức lực còn lại ngài dành để phục vụ trại phong. Sức ngài giảm nhiều so với trước kia, do những đau đớn của căn bệnh…”

Cha Christian Grison, người quản nhiệm cuối cùng của Trung tâm Thượng Di-linh (từ 1965 đến 1975), người đã gần gũi với Đức Cha Cassaigne trong mười năm cuối cùng của ngài tại làng cùi Di-linh, đã viết về Vị Tông đồ người phong cùi như sau : “ Tôi được phúc sống mười năm gần Đức Cha Cassaigne, vì thời gian đó tôi phụ trách xứ đạo thượng tại Di-linh. Tôi đã chứng kiến tình cảm ưu ái mà ngài khơi dậy khi ngài trở nên nhỏ bé với những kẻ nhỏ bé, trở nên phong cùi với những người phong cùi. Sự mến phục người ta dành cho ngài đó, không bao giờ ngài sử dụng vì lợi ích riêng của mình; tất cả được hướng về sự cứu trợ cho người phong cùi. Mối quan tâm duy nhất của ngài, tôi có thể nói là nổi ám ảnh đối với ngài cho đến khi ngài chết, đó là tìm nguồn tài trợ cho làng cùi…”

 Qua những chứng từ trên đây, chúng ta thấy được tấm lòng yêu thương và sự hy sinh cao cả mà Đức Cha Cassaigne đã dành cho những người phong cùi của ngài. Có thể áp dụng cho ngài câu nói của Thánh sử Gioan về Đức Giê-su : “Ngài đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1) . Ngài đã sống trọn vẹn châm ngôn giám mục của ngài - Bác ái và Yêu thương -  không phải từ khi làm Giám mục, mà phải nói là từ khi ngài chấp nhận đi truyền giáo cho những người Thượng Di-linh.

Ngày 31.10.1973, ngài trút hơi thở cuối cùng giữa những con cái phong cùi của ngài như ngài đã ước nguyện. Ngài đã được mai táng bên cạnh ngôi nhà nguyện của người phong cùi, để họ có ngài ở với họ luôn mãi. /.   

***

Giu-se Bùi Văn Tường, Đà-lạt

            

         


Về Trang Mục Lục
Trở Về Trang Nhà