Lời giới thiệu của Đức Giám Mục Giáo Phận Phêrô Nguyễn Văn Nhơn:

 

”...  Năm 2008 này Hội Thừa Sai Paris mừng kỷ niệm 350 năm ngày thành lập. Giáo Hội Việt Nam mang ơn các cha thừa sai rất nhiều vì công sức của các thế hệ tông đồ đã qua góp phần rất lớn trong việc loan báo Tin Mừng trên quê hương thân yêu này ; cách đặc biệt trong Giáo phận Đàlạt, các ngài đã cùng cộng tác với các cha dòng Chúa Cứu Thế, Đaminh và Tu Hội Truyền giáo thánh Vinhsơn hoạt động trên cánh đồng truyền giáo mênh mông, cho chúng ta có ngày hôm nay.

Đánh dấu biến cố này và nhân Năm Thánh mừng 80 năm truyền giáo Đàlạt vừa qua, giáo sư Giuse Bùi Văn Tường đã biên soạn tập sách nhỏ, ghi nhớ các vị thừa sai MEP (Missionnaire Etrangere de Paris) đã in dấu ấn trong các Trung tâm truyền giáo trong vùng Đàlạt - Lâm Đồng...”.

 

 Web Simon Hòa Đàlạt hân hạnh gửi đến độc giả tập nghiên cứu này.

 

CÁC CHA THUỘC HỘI THỪA SAI PARIS

VỚI SỰ HÌNH THÀNH CỦA GIÁO PHẬN ĐÀLẠT

 

 

Lời mở đầu

 

Ngày Chúa Nhật 29/10/2006, Đức Giám mục giáo phận đa chủ sự thánh lễ đồng tế trọng thể với hơn 30 linh mục thuộc giáo hạt Đà-lạt, khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho Anh em Dân tộc thiểu số trong giáo phận. Tám mươi năm là thời gian được tính từ ngày người Thượng đầu tiên lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy tại vùng đất này: đó là ngày 07/12/1927, áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội; người được rửa tội là một phụ nữ bị bệnh phong cùi giai đoạn chót, tên là K’Trut, và vị giáo sĩ ban Bí tích là cha Gioan Cassaigne, một thừa sai trẻ thuộc Hội Truyền Giáo Paris, về nhận nhiệm sở (tại giáo điểm truyền giáo Di-linh) chưa được một năm. Cha Cassaigne đa chọn tên Đức Mẹ để đặt cho bà K’Trut. Không đầy hai tuần sau, bà Ma-ri-a K’Trut qua đời. Theo lời kể của vị Tông đồ người phong cùi Di-linh, thì trước khi chết, bà Ma-ri-a K’Trut đa nói với ngài: “Ông Lớn ơi ! Tôi sẽ nhớ đến Ông khi ở trên trời.” Chúng ta hy vọng rằng hiện nay người phụ nữ diễm phúc đó đang ở trên trời. Nhưng có điều chắc chắn là bà đa giữ lời hứa với vị ân nhân của mình: khi cha Cassaigne tạm rời Di-linh, sau 14 năm 4 tháng hoạt động tại đây, từ 24/01/1927 đến 01/6/1941, đa có 296 tín hữu người Thượng được ngài rửa tội – gồm 218 người tại Di-linh và 78 người tại làng cùi; ngoài ra, công trình vĩ đại của ngài, được khắp nơi biết đến, là Trại phong Di-linh do ngài thành lập và được chính thức công nhận ngày 11/4/1929, lúc ấy đang cưu mang 211 bệnh nhân, trong đó có 133 dự tòng. Nhưng sự phù hộ của bà Ma-ri-a K’Trut không chỉ dừng lại nơi cuộc đời và sự nghiệp của nhà truyền giáo Gioan Cassaigne, mà còn tiếp tục cho đến hôm nay, 80 năm sau khi bà được trở nên con cái Hội Thánh Công giáo. Con số trên 100 ngàn anh chị em tín hữu người Dân Tộc Thiểu Số trong Giáo phận của chúng ta hiện nay đa hùng hồn chứng minh điều đó.

Giáo phận Đà-lạt được hình thành và phát triển từ cái nôi là họ đạo Thánh Nicolas. Họ đạo này được chính thức thành lập vào năm 1920, nhưng có thể nói hạt giống Tin Mừng đa được gieo từ khi Đức Cha Lucien Mossard, Đại diện Tông tòa Sài-gòn, cùng với cha Nicolas Couvreur, Quản lý của Hội Truyền Giáo Paris vùng Viễn Đông, trụ sở đặt tại Singapore, đặt chân đến nơi đây, với mục đích tìm chỗ thích hợp để xây dựng một nhà nghỉ dưỡng rất cần thiết cho sức khỏe của các Thừa sai người Âu thường bị suy giảm do khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt. Đó là vào cuối năm 1917, đầu năm 1918. Nhưng Thiên Chúa đa dùng bàn tay con người để thực hiện ý định của Ngài: Dưỡng Viện Giáo Đồ do Cha Nicolas Couvreur xây dựng lên, không chỉ là nơi các Thừa sai đau yếu đến nghỉ dưỡng, nó còn là nơi qui tụ của những tín hữu – ít ỏi thôi, khoảng chưa được 200 người – họ là những quan chức, quân nhân hay doanh nhân, nông dân người Pháp và khách vãng lai; họ cũng là một ít người Việt tha phương cầu thực hay là công chức phục vụ trong các cơ quan nhà nước... nhưng ai nấy đều có nhu cầu sống đạo, và chắc chắn họ rất vui mừng khi có sự hiện diện của linh mục giữa họ. Thế là Dưỡng Viện được nối dài thêm để có nơi cử hành các Bí Tích. Do đó mà có họ đạo Đà-lạt, một họ đạo rộng mênh mông, bao gồm không những toàn bộ tỉnh Lâm-đồng ngày nay, mà còn kéo dài tới vùng La-ngà Định-quán nữa. Đến năm 1927 có họ đạo thứ hai của giáo phận, khởi đầu là giáo điểm truyền giáo Di-linh, do Đức Cha Isidore Dumortier, Đại diện Tông tòa Sài-gòn, thành lập. Từ hai họ đạo lớn này, dần dần, theo dòng thời gian, các họ đạo lớn nhỏ khác của giáo phận ra đời.

Đôi nét chấm phá trên đây cho ta thấy rằng công đầu hình thành và phát triển Giáo phận Đà-lạt là của các cha Thừa sai thuộc Hội Truyền Giáo Paris, thường được gọi tắt là MEP, vì cả hai họ đạo lớn của giáo phận đều do các ngài quản lý, xây dựng và mở mang trong giai đoạn khởi đầu. Các ngài đa đến đây với sứ mạng chính là truyền giáo cho người dân tộc thiểu số, nhưng cũng không coi nhẹ việc xây dựng các cộng đoàn tín hữu người Kinh. Dầu vậy, tuy số người tín hữu thuộc dân tộc thiểu số chỉ chiếm một phần ba trên tổng số tín hữu của giáo phận, công bằng mà nói thì chính các tín hữu thuộc dân tộc thiểu số mới là “con cái chính thức - con thừa tự” của giáo phận, và những người đầu tiên trong số họ đa được sinh ra từ tay của các nhà truyền giáo MEP.

Bài viết sau đây không phải là một khảo luận về công cuộc truyền giáo do các cha MEP thực hiện cho người Dân tộc Thiểu số vùng Đà-lạt Di-linh, công việc này đoi hỏi nhiều nguồn tài liệu mà bản thân người viết không tiếp cận được, nhưng đơn giản chỉ là kết quả của một sự chọn lọc, biên tập và sắp xếp lại những thông tin từ những tài liệu có sẵn, để bày tỏ sự tưởng nhớ, lòng biết ơn đối với những con người đa hy sinh, có khi trọn cả đời mình, để mở ra con đường dẫn đến những thân phận nghèo đói, nếu không đói cơm bánh, thì cũng đói tình thương và sự kính trọng mà chỉ có Đức Ki-tô mới thực sự đem đến cho họ qua tấm lòng của các sứ giả Tin Mừng.

Do sự giới hạn của các tài liệu được sử dụng, chắc chắn bài viết này không những sẽ không làm thỏa mãn những bậc cao minh, mà còn có nhiều sai sót, người viết xin được sự thông cảm của độc giả, vì, như đa nói, mục đích của bài này chỉ là để tưởng nhớ và biết ơn các vị Thừa sai Paris và hoạt động của các ngài cho Anh Em Dân Tộc Thiểu Số Đà-lạt Di-linh, dịp kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho họ. Cũng vì không tiếp cận được với tất cả các tài liệu về tất cả các vị Thừa sai đa góp phần vào việc hình thành Giáo phận Đà-lạt, người viết xin chỉ dừng lại nơi vài khuôn mặt tiêu biểu nhất. Về các vị khác, hoặc chỉ nêu tên hoặc chỉ ghi lại được đôi dòng vắn tắt nói đến hoạt động của các ngài, cũng là theo những tài liệu được sử dụng.

 

Thao thức truyền giáo cho các sắc tộc vùng Tây Nguyên

Đức Cha Victor Quinton – Đại diện Tông tòa Sài-gòn từ năm 1920 đến năm 1924 – và Đức Cha Isidore Dumortier – Đại diện Tông tòa Sài-gòn từ năm 1924 đến năm 1940 – sau những lần đi kinh lý vùng Đà-lạt Di-linh, đã ao ước mang Tin Mừng Cứu Độ đến cho những con người khốn khổ đói rách mà các ngài biết là dân bản địa của vùng đất thuộc quyền cai quản của các ngài.

Thật ra, từ lâu trước, nhiều vị truyền giáo khu vực Đàng Trong cũng đã có thao thức tương tự, khi các ngài nhìn lên những cao nguyên hùng vĩ phía tây – cao nguyên Kon-tum, cao nguyên Gia-lai (Plei-ku), cao nguyên Đắc-lắc (Ban-mê-thuột), cao nguyên Lâm-viên (Langbiang) và cao nguyên Di-linh – nơi đó các ngài biết rằng có những bộ lạc người thiểu số đang sinh sống. Ngày 10/10/1674, cha De Courtaulin, thuộc Hội Thừa Sai Paris, vị Tổng Đại diện của địa phận Đàng Trong, từ Hội-an trong tỉnh Quảng-nam, đã gửi một lá thư cho Giám mục của ngài là Đức Cha Lambert de La Motte đang ở Thái-lan để tránh cơn bắt đạo của chúa Nguyễn Phúc Tần [1] .

Trong thư đó ngài gợi ý việc truyền giáo cho người sắc tộc vùng Tây Nguyên. Có đoạn viết: “Nhiều lần gặp những người Thượng từ trên núi xuống vùng Nam Bộ, con nhận thấy họ có tính tình tự nhiên rất hiền hòa, và họ không có chùa chiền hay tư tế thờ ngẫu tượng... Ngày đêm con quyết chí tìm cách đưa Tin Mừng đến với họ...”  [2] Nhưng – trừ các cao nguyên Kon-tum và Gia-lai, nơi phái đoàn truyền giáo do Đức Cha Tê-pha-nô Cuénot Thể [3] sai đến, với mục đích thiết lập một giáo đoàn nơi “những người dân tộc thiểu số miền núi rừng phía tây”, và cũng để làm chỗ nương thân cho giáo sĩ và giáo dân trong thời cấm cách – thì chưa có vết chân của nhà truyền giáo nào trên vùng cao nguyên Lâm-viên và cao nguyên Di-linh trước thế kỷ 20. [4]

Phần Đức Cha Victor Quinton – từ năm 1920 thay Đức Cha Lucien Mossard (qua đời ngày 11/02/1920) coi sóc địa phận Tây Đàng Trong, địa phận bao gồm cả vùng Đà-lạt Di-linh – ngài đã thao thức đến việc rao giảng Tin Mừng cho những người Thượng mà ngài đã có dịp gặp trong những lần đến Đà-lạt. Tài liệu 72 [5] có đoạn ghi: “Trước đây, ngài đã từng lên nghỉ vài hôm tại dưỡng viện; trong những chuyến đi dạo trong rừng ngài đã gặp một vài người Thượng trên đường đi. Đối với ngài, đó là một mặc khải; ngài tin rằng mình đã nghe tiếng kêu của những con người khốn khổ trên cao nguyên, những người mà cho đến lúc ấy chưa hề được rao truyền sứ điệp Tin Mừng.”

Còn Đức Cha Isidore Dumortier, người kế vị Đức Cha Quinton từ năm 1924, thì chính ngài đã viết trong bản phúc trình năm 1927 [6] như sau: “Vừa nhận nhiệm vụ cai quản địa phận, tôi không dám tìm cách thực hiện ngay ý nguyện tôi đã ấp ủ từ lâu là chăm sóc cho những người Thượng trong địa phận của tôi: nhưng chính Đấng Quan Phòng đã sắp đặt mọi sự; tôi chỉ còn việc làm theo những chỉ dẫn của Người.”

Những nhà truyền giáo đầu tiên trên cao nguyên Đà-lạt Di-linh đã được chính những vị bản quyền này gửi đến.

 

Vị thừa sai xây dựng cộng đoàn

Cha Céleste Nicolas, ngày nay được biết đến nhiều hơn qua việc ngài đã xây dựng nên họ đạo Đà-lạt về mặt vật chất cũng như tinh thần, lại chính là vị Thừa sai đầu tiên được Giáo quyền gửi đến vùng Cao nguyên Đà-lạt với sứ mạng truyền giáo cho người Thượng xứ này. Thật vậy, trong bản phúc trình năm 1920, Đức Cha Quinton đã viết như sau: “Chưa đầy một tháng sau khi (từ Pháp) trở lại, cha Nicolas lại bị chứng đau gan, cơn bệnh đã hai lần bắt ngài phải về Pháp để chữa trị. Vì bác sĩ đã nói rõ rằng với bất cứ giá nào ngài cũng phải được sống trong một khí hậu ôn hòa hơn là khí hậu miền Nam kỳ, nên tôi nghĩ phải gửi ngài lên Đà-lạt, ở đó ngài sẽ là bạn của cha Sidot mà tôi đặt làm cha sở từ hồi tháng Năm. Như thế, may ra ngài có thể làm được một cái gì đó cho các bộ lạc Thượng vùng Langbian. Cuộc thử nghiệm sẽ kết quả thế nào? Tôi không biết. Nhưng ít ra chúng ta sẽ được mãn nguyện vì đã cung cấp cho những người Thượng nghèo khó đó một phương tiện cứu rỗi...”  [7] Nhưng cuộc thử nghiệm đã không thành công!

Sau đây là ghi nhận của Hội Truyền Giáo Paris, trong tập sách nhan đề In Memoriam, tháng 9/1962: “Khi đến nơi, cha Nicolas bắt đầu dựng một ngôi nhà nguyện nhỏ; đoạn ngài tổ chức một lớp học dành cho thiếu nhi và thông báo cho cha mẹ của chúng. Ngài cũng lao vào việc học tiếng của chúng. Nhưng kết quả không tương xứng với lòng nhiệt thành hăng say của ngài: vài tuần sau đó, lớp học trở nên trống rỗng, lũ trẻ con người Thượng chán học đã tìm đường trở về với rừng núi. Cha Nicolas rất thất vọng. Ngài tự nhủ: giờ của Chúa chưa đến và việc tông đồ duy nhất ngài có thể làm là cầu nguyện.”

Qua sự kiện này, ta thấy con đường của Chúa dành cho cha Nicolas thật là lạ lùng. Cha Giu-se Phùng Thanh Quang đã viết về ngài như sau: “Người ta tưởng rằng linh mục đau yếu này (tức là cha Nicolas) sẽ chỉ ở coi nhà (sau khi cha sở đầu tiên là cha Frédéric Sidot được thuyên chuyển về Vũng-tàu) rồi hưu trí luôn, nhưng trái lại con người bệnh tật này đã làm những việc vĩ đại mà giáo dân Đà-lạt muôn đời ghi nhớ ...”  [8]

Để việc tưởng nhớ được trọn vẹn, người viết xin được ghi lại đây đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp của cha Céleste Nicolas, cha sở thứ hai của họ đạo Đà-lạt.

Sinh ngày 07/9/1880 tại Lorraine, miền đông bắc nước Pháp, ngài lãnh chức linh mục ngày 26/6/1904 trong Hội Thừa Sai Paris. Ba tháng sau ngày chịu chức, ngài lên đường sang Việt-nam.

Từ năm 1904 đến 1920, ngài lần lượt làm phó xứ Chợ Quán, phó xứ Tha-la, phó xứ nhà thờ Đức Bà Sài-gòn, cha sở Chợ Đũi. Trong thời gian đó, ngài phải ngưng công việc mục vụ hai lần để trở về Pháp chữa bệnh đau gan, vào các năm 1909 và 1916. Lần sau, do chiến tranh, ngài bị kẹt ở Pháp cho đến năm 1920 mới trở về lại nhiệm sở. Nhưng chưa đến một tháng sau, chứng đau gan của ngài tái phát. Bác sĩ tuyên bố dứt khoát rằng ngài không thể chịu được khí hậu nhiệt đới. Do đó, Đức Cha Quinton quyết định gửi ngài lên Đà-lạt như đã nói đến trên đây. Ngài đến Đà-lạt ngày 11/9/1920.

Sau thất bại nơi những anh em dân tộc thiểu số, ngài đọc được ý Chúa nhiệm mầu không muốn ngài làm công việc ấy. Rồi với sự ra đi của cha Sidot – cha này được Đức Cha Quinton đặt làm cha sở đầu tiên của họ đạo mới và đã đến nhận nhiệm sở ngày 10/5/1920, nay được thuyên chuyển về Vũng-tàu để trông coi trường sư phạm mới được mở của giáo phận, ngài rời Đà-lạt ngày 11/7/1921 – và với sức khỏe được hồi phục nhờ khí hậu trong lành của Đà-lạt, cha Nicolas bắt tay vào công việc xây dựng họ đạo của ngài trong tư cách là cha sở mới.

Cơ sở vật chất của họ đạo mới chỉ có ngôi nhà do cha Nicolas Couvreur xây dựng ba năm về trước và được sử dụng vừa làm nhà xứ vừa làm dưỡng viện dành cho các vị mục tử đau yếu đến nghỉ ngơi. Nơi thờ phượng là phần nối dài cánh phải của ngôi nhà này, được thiết kế như một nhà nguyện nhỏ vào năm 1919, với chi phí do bổn đạo đóng góp theo lời kêu gọi của Đức Cha Mossard.

Chưa đầy hai năm sau ngày nhậm chức, cha Nicolas thấy đoàn chiên của ngài, từ con số chưa đến 200 người lúc họ đạo được thành lập, nay tăng lên nhiều đến nỗi ngôi nhà nguyện cũ đã trở nên quá nhỏ bé. Được sự cho phép và yểm trợ của Đức Cha Quinton, một ngôi nhà thờ mới được xây dựng, cách nhà xứ khoảng 100 mét về phía nam (khởi công ngày 05/7/1922, khánh thành ngày 17/02/1924, ở vị trí của sân trường Quang-Trung, hướng về phố Nhà Chung ngày nay; hiện không còn nữa). Dự kiến sử dụng trong 20 năm, nhưng chỉ mới 5 năm sau, vào năm 1928, ngôi nhà thờ mới đã không còn đáp ứng được số giáo dân gia tăng đến trên 500 người vừa Pháp vừa Việt định cư tại Đà-lạt. Ngoài ra còn khách vãng lai, du khách và học sinh nội trú của các trường trung tiểu học được thành lập trong thành phố mới. Vì vậy cha Nicolas thấy cần phải có một ngôi nhà thờ đủ sức chứa hết số giáo dân đông đảo đến với ngài.

Ngài đã đệ trình Đức Cha Isidore Dumortier, người kế vị Đức Cha Quinton từ năm 1924, nguyện vọng của họ đạo là muốn có một ngôi nhà thờ mới, rộng lớn, khang trang hơn. Chính Đức Cha Dumortier đã lo liệu các hồ sơ địa chánh cần thiết cho công trình xây cất nhà thờ. Phần cha sở Nicolas, thì từ ngày 01/02/1929, ngài bắt đầu kêu gọi sự đóng góp của giáo dân và bạn hữu.

Ngài cũng lập một Bản Tin Họ đạo, dưới dạng một nguyệt san, để thúc đẩy mạnh mẽ sự đóng góp của mọi người. Số đầu tiên được phát hành vào tháng 3/1930. Ngoài những mục giáo lý, đạo đức, thời sự, giải trí, đố vui và quảng cáo, bản tin luôn dành hai hoặc ba trang để ghi danh các ân nhân, đồng thời nhắc nhở, thúc giục mọi người không phân biệt giàu nghèo, lương giáo, trong cũng như ngoài nước, ủng hộ công trình xây cất ngôi nhà của Chúa. Bản Tin ra đều đặn, miễn phí, từ 1930 đến tháng 12/1943, và được phát hành không chỉ ở Đà-lạt mà cả ở Sài-gòn. Cha Decoopman, một người bạn thân của cha Nicolas từ hồi còn ở chủng viện, nay làm quản lý giáo phận, nhận việc thu góp các khoản tiền dâng cúng.

Nhờ sự giúp đỡ rộng rãi từ nhiều phía, công trình xây dựng đã có thể bắt đầu với lễ đặt viên đá đầu tiên được cử hành trọng thể ngày 19/7/1931, do chính Đức Khâm sứ Tòa Thánh (tại Đông-dương và Thái-lan), Đức Cha Colomban Dreyer, chủ sự, và chỉ hơn tám tháng sau, giai đoạn một của công trình đã hoàn tất như dự liệu, với phần đầu nhà thờ gồm cung thánh, hậu tẩm, các phòng phụ quanh cung thánh, gian trước cung thánh với hai gian cánh và một gian lòng nhà thờ. Ngày 27/3/1932, phần này được làm phép và đưa vào sử dụng. Nhưng sự sốt sắng lúc đầu này dần dần nguội bớt và phải đợi đến hơn tám năm sau công trình mới lại được tiếp tục. Ngày 07/10/1940 bắt đầu giai đoạn hai với việc xây cất năm gian lòng nhà thờ và đặt móng cho tháp chuông và hai tháp phụ. Tiếp theo là giai đoạn cuối cùng với việc xây các tháp, cầu thang xoắn trôn ốc lên gác đàn và tháp chính, đặt thánh giá trên đỉnh tháp chính và trên thánh giá đặt con gà cồ bằng đồng.

Mọi sự hoàn tất vào ngày 14/01/1942. Cha sở Nicolas đã đề ra ba chỉ tiêu cho nhà thờ mới: rộng, kiên cố và đẹp [9] . Cả ba chỉ tiêu đã đạt được, như chúng ta thấy ngày nay. Những phẩm chất này quả thật là hiếm thấy nơi những công trình “hiện đại”! Về kích thước, nhà thờ mới dài 65 thước, rộng 14 thước, tháp chuông cao 47 thước, nếu tính cả thánh giá với con gà thì tháp cao 50 thước.

Ngày Chúa Nhật 25/01/1942, Đức Cha Gioan Cassaigne – Giám mục giáo phận Sài-gòn từ 24/6/1941 – và Đức Tân Khâm sứ Tòa Thánh (từ năm 1937), Antonin Drapier, đồng chủ sự lễ khánh thành ngôi nhà thờ mới, với sự tham dự của các giới chức chính quyền và đông đảo giáo dân. Cũng như ngôi nhà thờ thứ hai, nhà thờ mới được dâng kính thánh Nicolas, vị thánh rất được sùng kính tại xứ Lorraine, quê hương của cha sở Nicolas, để muôn đời ghi nhớ công ơn của cha Nicolas Couvreur, vị đại ân nhân của họ đạo Đà-lạt.

Công trình xây dựng Nhà Chúa đã hoàn tất trong sự hân hoan của mọi người, nhưng đối với cha sở Nicolas, gánh nặng của một khoản nợ gần 100.000 ngàn đồng  [10] vẫn còn là một mối ưu tư lớn. từ năm 1940 và sau đó, từ năm 1948 đến 1961, là cha sở nhà thờ Đà-lạt, thay thế cha Nicolas.

Nói về sự nghiệp của cha Nicolas, cha Giu-se Võ Đức Minh, nay là Giám mục phó Giáo phận Nha-trang, tác giả bài tham luận nhan đề Truyền giáo ở Đà-lạt được đọc trong đợt thường huấn của Linh mục đoàn giáo phận Đà-lạt năm 2004, đã viết:

“Chúng ta đã thấy cha Céleste Nicolas trong sự quan phòng của Chúa: lúc đầu ngài nhắm tới việc truyền giáo, nhưng cuối cùng lại là người xây dựng giáo đoàn; ngài hiện diện ở Đà-lạt để đón tiếp, chăm sóc đoàn dân Chúa từ khắp nơi hướng về Đà-lạt. Họ không những là người Thượng, người Kinh, người Âu-châu, mà có thể nói mọi hạng người; ngài là vị Thừa sai đã đón tiếp các Đức Cha, các cha, các tu sĩ nam nữ, không những ở trong giáo phận, mà ngay cả nhiều nơi từ khắp Đông-dương và rất nhiều vùng khác nữa. Ngài có dịp tiếp xúc với không biết bao nhiêu bậc vị vọng về đạo cũng như về đời. Tất cả chỉ nhằm phục vụ công cuộc loan báo Tin Mừng.”  [11]

Bài viết dành cho cha Nicolas, tháng 9/1962, mà chúng tôi đã trích dẫn một đoạn trên đây, từ trong cuốn In Memoriam, được mở đầu như sau: “Có một số người được ơn gọi tạo ảnh hưởng trên đời sống của một thời đại hay của một thành phố bằng dấu ấn và hoạt động của họ, đến nỗi về sau chỉ cần nhắc đến tên của họ là người ta nhớ lại đầy đủ về thời đại hay thành phố đó. Với sự dè dặt, có vẻ đó là trường hợp của cha Céleste Nicolas, người đã xây dựng họ đạo Đà-lạt, đã coi sóc họ đạo trong 25 năm và đã củng cố họ đạo đó bằng lời cầu nguyện và bằng sự hy sinh trong 15 năm cuối cùng ngài trải qua tại Monbeton.”  [12]

Thật vậy, cha Céleste Nicolas đã rời Việt-nam năm 1947, sau 25 năm làm cha sở họ đạo Đà-lạt. Cũng trong bài đó, ta đọc được những dòng sau đây về những năm cuối đời của ngài:

“Tháng 02/1940, cha Nicolas, một con người đa cảm, bị xúc động mạnh bởi cái chết đau đớn của cha Decoopman, người bạn trung thành và người cộng tác đắc lực của ngài trong việc xây dựng nhà thờ, và bởi chiến tranh và những đau khổ do nó gây nên. Khi mọi liên lạc của ngài với các bạn đồng nghiệp bị cắt đứt do việc người Nhật chiếm đóng Đông-dương, tinh thần ngài suy sụp hẳn và ngài rơi vào một nỗi u uất nặng nề, mà thời cuộc lúc đó (Cách mạng tháng 8/1945) càng làm tăng thêm cường độ. Đến một ngày, vì quyền lợi của Hội Thánh – lý do được nêu lên lúc đó – ngài bị bắt buộc rời nhà thờ và nhiệm sở của mình. Ngài coi đó như là một cuộc lưu đày mà ngài không đáng phải trải qua. Ngài rất đau khổ, nhất là khi phải sống cô lập. Thất vọng và buồn chán. Năm 1947, ngài phải trở về Pháp. Tại Montebon, ngài thu mình một chỗ, không nói chuyện với ai. Cho rằng mình không xứng đáng dâng thánh lễ, ngài lại sẵn sàng giúp lễ cho các bạn đồng nghiệp. Nhưng con đường thập giá mà từ ngày đó ngài phải bước đi, sẽ không trở thành vô ích. Thật vậy, chẳng phải là kết quả của sự các thánh thông công khi việc truyền giáo cho người Thượng vùng Đà-lạt được đẩy mạnh chỉ ít lâu sau khi cha Nicolas đến Montebon, nhờ nỗ lực của vị Thừa sai rất đáng thương tiếc là cha Octave Lefèvre  [13] và nhóm của ngài đó sao? Tháng 7/1959, ngài được một người cháu đưa đến Lộ-đức; tại đây ngài được khỏi bệnh và trở lại là người vui tính đầy sức cuốn hút. Ngài nối lại thư từ với bạn bè, thậm chí còn đi thăm họ tại chỗ. Thật là một sự ngạc nhiên lý thú cho những ai biết được ngài đã trở nên như thế nào trước đây, và thình lình lại tìm thấy nơi ngài “Cha Céleste” của ngày xưa! Đức Cha Antonin Drapier, vị cựu Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông-dương (người đã cùng với Đức Cha Gioan Cassaigne chủ sự nghi thức khánh thánh nhà thờ Đà-lạt năm 1942) cũng rất đỗi ngạc nhiên khi đón tiếp con người “mất trí nhớ” ấy và nghe ngài thuật lại một cách hóm hỉnh những kỷ niệm xa xưa! Ngài thích nói về Đà-lạt và thật là một niềm vui lớn cho ngài khi được người kế nhiệm của ngài, cha Fernand Parrel, đến thăm tại Montebon. Ngài hỏi thăm về tất cả mọi người ngài đã quen biết trước kia và không ngừng hỏi han về họ. Đà-lạt luôn là đối tượng kinh nguyện của ngài và ngài hằng nghe ngóng tin tức về Đà-lạt; ngài vui mừng về sự phát triển của họ đạo và việc truyền giáo cho người Thượng, điều mà ngày xưa ngài đã rất quan tâm.

Nhưng tình trạng tốt lành đó chỉ kéo dài được hai năm; đến tháng 9/1961, mọi sự trở lại như cũ. Ngài lại rơi vào trong nỗi u uất, không nói chuyện với bất cứ ai, nhưng luôn miệng rên rỉ một cách tội nghiệp: “Ôi! Chúa ôi, Chúa ôi!...” Ngài được đưa vào bệnh viện Montauban; và tại đây, sáng ngày 18/11/1961, người ta thấy ngài đã tắt thở!... Đà-lạt – nơi mà ngài đã ước ao được yên nghỉ tại tầng hầm [14] của ngôi nhà thờ nay đã trở thành Nhà thờ Chánh tòa – sẽ không bao giờ quên ngài, bởi vì ngài đã để lại đó, không chỉ là một công trình bằng đá mà thôi, mà nhất là kỷ niệm về một vị Thừa sai đã sống hết mình vì đoàn chiên”.

Nhận xét về cha Céleste Nicolas và Đức Cha Gioan Cassaigne, cha Giu-se Võ Đức Minh, trong bài tham luận nhan đề Truyền giáo ở Đà-lạt được nói đến trên đây, đã viết như sau: “Xin dừng

lại ở hai khuôn mặt tiêu biểu trên cánh đồng truyền giáo ở vùng cao nguyên mà nay là Giáo phận Đà-lạt: Cha Céleste Nicolas và Cha Jean Cassaigne. Trong suy nghĩ chủ quan của người trình bày: hình như hai vị Thừa sai này làm sống lại khuôn mặt và hoạt động truyền giáo của hai Tông đồ năm xưa: Phê-rô và Phao-lô.”  [15]

Vâng, theo như những gì chúng ta đã biết về cha Nicolas qua phần trình bày vắn tắt trên đây, ngài quả thật là hình ảnh của Thánh Tông đồ Phê-rô đối với giáo phận Đà-lạt. Một cộng đoàn giáo hữu lớn mạnh (14.000 người – con số này được Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền, GM tiên khởi của giáo phận, nêu lên trong lời đáp từ của ngài vào chiều ngày 16/01/1961, ngày ngài về nhận giáo phận)  [16] , và một ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ, cả hai yếu tố – con người và cơ sở vật chất – xứng đáng để họ đạo thánh Nicolas Đà-lạt, họ đạo của cha Nicolas, được đặt làm giáo xứ mẹ của một giáo phận vừa được Tòa Thánh thiết lập.

Và giáo phận đó còn được sự đóng góp xây dựng của một vị Thừa sai khác, vị thừa sai mang hình ảnh của Thánh Tông đồ Dân Ngoại. Ngài đã có mặt tại vùng đất này bảy năm sau cha Nicolas, nhưng ngài được diễm phúc hơn vì đã được sai đến với “Dân Ngoại”, đã sống và đã chết cho họ: Cha Gioan Cassaigne.

 

Vị tông đồ của “Bác ái và Yêu thương”

Đức Cha Isidore Dumortier, mà chúng ta đã biết qua việc ngài cho phép cha Nicolas xây ngôi nhà thờ Đà-lạt, là vị giám mục đã tiếp nhận cha Gioan Cassaigne vào hãng ngũ giáo sĩ của mình khi vị thừa sai trẻ này được sai đến phục vụ tại giáo phận Tây Đàng trong, bấy giờ đã được gọi là giáo phận Sài-gòn  [17] .

Trong bản phúc trình năm 1927 đã được nói đến trên đây, Đức Cha Dumortier còn viết: “Chúa Quan phòng đã lo liệu cho tôi con người mà tôi cần để khởi sự công trình này (là truyền giáo cho người Thượng cùng Cao Nguyên Dà-lạt Di-linh): Một vị thừa sai trẻ, cha Cassaigne, vừa mới đến Sài-gòn ; trong suốt cuộc chiến (trong chiến tranh thế giới lần thứ I, thanh niên Cassaigne đã bị gọi nhập ngũ, từ tháng 7/1914 đến tháng 7/1918) ngài là một liên lạc viên, nên đã quen với thiếu thốn và cực nhọc. Khi biết được các dự tính của tôi, cha Cassaigne liền xin tình nguyện và ngài vui sướng tột độ khi biết mình được bổ nhiệm.”  [18]

Cha cố Giu-se Phùng Thanh Quang đã nói về việc Đức Cha Dumortier sai cha Cassaigne đến vùng Di-linh như sau: “Khi vừa lên quyền Giám mục Sài-gòn được một năm, theo lời bàn của cha Decoopman, Quản lý Tòa Giám mục, Đức Cha Dumortier liền phái người đi xem xét địa thế vùng Di-linh ngay... Đợi cho cha quản lý lo giấy tờ mua lại cơ sở của ông Mười Liên xong ngày 13 (ngôi nhà này vẫn còn là nhà xứ Di-linh) thì ngày hôm sau là ngày 14/10/1926, Đức Cha viết bài sai trao cho cha quản lý cầm xuống Cái-mơn cho cha Cassaigne đang học tiếng Việt tại đó, và kêu cha cấp tốc về Sài-gòn lo đi nhận thí điểm truyền giáo Di-linh ngay.”  [19]

Nhưng do tình hình thời tiết, mãi tới ngày 24/01/1927, cha Gioan Cassaigne mới đến nhận nhiệm sở được. Hôm đó được coi là ngày khai sinh của thí điểm truyền giáo, sau này là họ đạo Di-linh. Và cha Cassaigne là cha sở tiên khởi.

Ngài sinh ngày 30/01/1895, tại miền Landes, thuộc địa phận Dax, tây nam nước Pháp, thụ phong linh mục ngày 19/12/1925. Ngày 09/4/1926, ngài rời quê hương, lên tàu sang miền Viễn Đông. Sau gần một tháng lênh đênh trên biển, ngày 05/5/1926, tàu cập bến Sài-gòn. Ngài được cha Quản lý Decoopman đến đón và đưa về Tòa Giám mục.

“Có mặt tại Di-linh từ ngày 24 tháng Giêng, (Đức Cha Dumortier viết tiếp trong bản phúc trình 1927 đã được nói đến trên đây), cha Cassaigne viết cho tôi lá thư đề ngày 03 tháng Hai như sau: “Con đã làm quen với người Thượng, lớn có nhỏ có, và đã có những người bạn trong số họ. Không biết là họ thích con hay là thích những điếu thuốc của con nữa? Dầu sao, họ không sợ khi đến gặp con và con thì rất vui khi tiếp đón họ và học tiếng của họ trong khi nói chuyện; trong số những người lớn, có một ít nói được đôi chút tiếng Việt.” Tháng Bảy vừa rồi, người đồng nghiệp của chúng ta biết được ý định của nhà cầm quyền Pháp là mở một trường học tại Di-linh cho con em người Thượng và (ngài gợi ý) tầng trệt của nhà ngài có thể dùng làm địa điểm... đề nghị được chấp thuận và nhờ sự can thiệp thuận lợi của quan Toàn quyền, cha Cassaigne đã được phép mở một trường học tại Di-linh...”  [20]

Phần cha Cassaigne, thì trong một lá thư đề ngày 16/8/1928, ngài đã viết như sau về những ngày tháng đầu tiên sống giữa người Thượng Di-linh: “Chẳng bao lâu nữa là tròn một năm từ khi tôi đến nơi vùng núi rừng này, với chút ít hành trang tiếng Việt học trong tám tháng và mù tịt về ngôn ngữ của các con chiên mới của tôi. Một căn nhà xinh xắn bằng gỗ, một trệt một lầu, sẵn sàng chờ tôi. Nhưng chỉ có chừng đó. Trong sáu tháng đầu, tôi phải dâng lễ trong một căn phòng nơi “cái nhà” của tôi, với một cái bàn đơn sơ làm bàn thờ và chú bé đã theo tôi từ Nam bộ, thường hay bị sốt rét; nhiều lúc tôi chỉ có các thiên thần trên trời vừa là người giúp lễ vừa là người dự lễ... Khi đến Di-linh, tôi gặp được ở đây ba tín hữu người Việt; với người bếp và chú bé của tôi, vậy là có năm người, đủ để chiếm trọn căn phòng nhà nguyện của tôi. Không nhiều, nhưng cũng đã là một cái gì rồi, và áp dụng lời dạy của Thánh Ca-rô-lô Bô-rô-mê rằng một linh hồn là một địa phận đủ lớn cho một giám mục, tôi cảm thấy mình rất hạnh phúc... Công việc đầu tiên của nhà truyền giáo được sai đến giữa những người bản địa là học tiếng của họ... không phải trong sách vở, vì chẳng có những thứ này, nhưng bằng cách nói chuyện với họ, điều này thú vị hơn là chia động từ hay lật các trang của một cuốn

Chiều về, ngài góp nhặt những từ đã học hoặc đã nghe trong ngày, và... lập cuốn tự điển cho riêng mình.”  [21]

Công việc tiếp theo của nhà truyền giáo là chữa bệnh. Chúng ta hãy đọc tiếp: “Rồi nhà truyền giáo trở thành thầy thuốc, và nhờ vài vị thuốc thông dụng, ngài đã chiếm được lòng tin của những con người bản địa tốt lành, những con người cho đến lúc đó chỉ biết cậy nhờ vào các “Bo-yau” (thầy mo) của họ... Vì thuốc của tôi công hiệu hơn các chỉ dẫn của các “Bo-yau”, nên con cái tốt lành của tôi hằng ngày đến xin băng bó các vết thương và chữa các bệnh linh tinh của chúng...”  [22]

Tiếp xúc với người Thượng, học tiếng của họ, dạy học và chữa bệnh cho họ, đó là những công việc thường ngày của cha Cassaigne từ khi ngài tiếp nhận điểm truyền giáo Di-linh. Nhưng xem ra trường học của ngài cũng gặp những trớ trêu như ngôi trường của cha Nicolas tại Đà-lạt gần mười năm về trước: “...việc dạy dỗ lũ trẻ thì... hết sức vất vả. Chúng như những con dê con, thích chạy, thích nhảy, thích đi long rong ngoài bụi ngoài bờ, ít khi chịu ngồi yên trong lớp... Học sinh trốn học ở nhà là chuyện thường...”  [23]

Trong lá thư đề ngày 16/8 trên đây, cha Cassaigne cũng nói đến những khó khăn vất vả trong việc truyền đạt kiến thức cho con em bản địa; ngài viết: “Dạy học cho lũ con nít bản địa không phải là chuyện dễ; cha mẹ chúng, ông bà chúng... không bao giờ biết, cũng như không bao giờ nhận thấy lợi ích của việc biết chữ... ngôn ngữ của họ là để nói chứ không phải để viết. Tuy nhiên, phải bắt đầu từ chính chỗ này, và vì không nên quá tin tưởng vào sự hiếu học để lôi cuốn đám học trò nhỏ, nên mỗi ngày vài bát cơm nóng sẽ là phần thưởng cho những em siêng năng và thu hút những đứa khác... đối với những chú Thượng con, cần có cơm, và một bát cơm thì được nuốt nhanh hơn là một trang chữ.”  [24]

Sau những mò mẫm kiên trì, Cha Cassaigne cũng đã soạn được một cuốn sách giáo lý nhỏ  [25] và đã dịch được một ít kinh quen dùng bằng tiếng Ko-ho. Để có thể hội nhập hoàn toàn vào xã hội của người bản địa, cha Cassaigne còn tìm hiểu và ghi chép những phong tục tập quán của họ. Những nghiên cứu này, ngài đã thuyết trình trước các nhà đương cuộc  [26] hoặc đăng trên các tạp chí, như tạp chí Education – Giáo dục  [27] .

Công việc thì bề bộn và vất vả như thế, nhưng sức khỏe của nhà truyền giáo thì thật là đáng ngại. Chính cha Cassaigne thì hình như không bao giờ nói đến các bệnh tật mà ngài mắc phải khi ở Di-linh. Chúng ta chỉ thấy ngài viết về bệnh sốt rét và bệnh phong mà người khác là nạn nhân được ngài cứu chữa. Nhưng cha Phùng Thanh Quang đã dành nhiều trang trong cuốn Lạc quan trên miền Thượng của ngài để nói đến căn bệnh sốt rét quái ác đã tấn công nhà truyền giáo. Ngài viết: “Cuộc đời đau ốm liên lỉ của Đức Cha Cassaigne là điển hình rõ rệt nhất của loại sốt rét này. Cha Cassaigne đến Di-linh được hai tháng thì thần sốt rét đã lù lù đến viếng nhà xứ (Trước tiên, ông bếp già, rồi đến Nhân, chú bé đã đi theo Cha Cassaigne từ Cái-mơn, bị cơn sốt hành hạ)... Ngày 14/11/1927, cha Cassaigne ngã bệnh thực sự... Cha nằm li bì cả tuần lễ không ăn uống. Vẻ tráng kiện thanh xuân tàn lụn nhanh chóng trong vòng một tháng sau. Ngài bắt đầu ốm yếu, xanh mét, và cứ đau đi đau lại như thế trong suốt 14 năm làm cha sở Di-linh... Thế mà cha Cassaigne cố giấu không dám cho Bề trên biết, cũng không bao giờ xin đi nằm nhà thương, vì sợ bị bắt buộc phải thuyên chuyển đi nơi khác. Nhiều khi thấy vắng ngài lâu quá thì các cha sở ở gần, như cha Barret ở Phan-thiết, cha Nicolas ở Đà-lạt, phải tới thăm coi ngài ra sao thì mới hay ngài đang trùm chăn kín mít trong giường, đau cả tuần mà không ai hay, cả ông bếp già điếc, cả chú Nhân cũng đau hết một lượt, không còn ai lo cơm cháo gì. Nhưng khổ một điều là không ai khuyên được ngài đi nhà thương, vì ngài nhất định ở lại với nhóm con chiên nhỏ bé của mình với bất cứ giá nào... (Trong thời gian xây dựng làng cùi và vận động chính quyền công nhận) Ngài vẫn sốt rét liên lỉ. Ngay khi tổ chức lễ ra mắt làng cùi xong, ngày 11/4/1929, thì ngài nằm liệt giường, đến nỗi cha Nicolas phải đem xe từ Đà-lạt xuống bốc ngài đi nằm nhà thương. Nhưng cũng như bắt cóc bỏ dĩa, vừa hơi mạnh là cha Cassaigne trốn về Di-linh, viện cớ rằng mắc lo cho bệnh nhân đang nằm ở đó không bỏ được...”  [28] Phải đợi đến khi có lệnh của Bề Trên Cả bắt buộc ngài phải đi chữa bệnh, ngài mới chịu để cho đưa về Sài-gòn, sau đó sang Pháp. Đó là vào đầu tháng Tư năm 1932. Cha Henri Sion được cử lên Di-linh thay thế ngài. Sau 9 tháng tĩnh dưỡng tại Pháp, ngày 22/02/1933, cha Cassaigne trở lại Sài-gòn. Mười hôm sau, ngài trở về với đoàn chiên của mình (sau khi cha Sion được bổ nhiệm làm cha sở Thủ Dầu Một). Nhưng cơn bệnh quái ác vẫn không buông tha ngài: chỉ hai tháng sau ngày trở về Di-linh, ngài lại lên cơn sốt rét, phải lên nằm nhà thương Đà-lạt cả nửa tháng mới tạm ổn để bắt đầu làm việc trở lại.

Tuy đau yếu như thế, nhưng cha Cassaigne luôn cảm thấy như bị thiêu đốt trong lòng bởi tình thương ngài dành cho người Thượng. “Ngài mê say người Thượng, yêu thương người Thượng nhiều khi gần như quá trớn, nhất là lúc ngài đã cao niên”  [29] . Thật là một ơn đặc biệt Chúa ban cho ngài. Nhưng không phải ngài chỉ dành sự quan tâm cho người Thượng mà thôi. Đúng hơn, tinh thần truyền giáo nơi ngài thôi thúc ngài hoạt động cho tất cả mọi người để họ được ơn cứu rỗi, bất luận là Kinh hay Thượng. Vì thực tế, ngài đã không thành công lắm với người Thượng trong những năm đầu. Ngoài con người khốn khổ bị bệnh phong cùi giai đoạn chót mà ngài đã rửa tội vào ngày được giáo phận chúng ta chọn làm khởi điểm của tám mươi năm truyền giáo cho người dân tộc thiểu số, như đã nói ở đoạn đầu, thì ngài chỉ có được một tân tòng người bản địa đầu tiên, sau gần ba năm nỗ lực dành cho người Thượng: dạy dỗ, yêu thương, giúp đỡ, chữa cho lành các bệnh tật, thậm chí qui tụ lại để cưu mang chăm sóc (trường hợp những người phong cùi bị dân làng xua đuổi): đó là anh Giu-se K’Brai. Về sự kiện này, chúng ta đọc được trong cuốn Lạc quan trên miền Thượng những dòng sau đây: “Cha Cassaigne sung sướng hãnh diện làm báo cáo kết quả truyền giáo lên Đức Cha Dumortier, vị Giám mục chỉ có một khát vọng là đem ánh sáng Phúc Âm đến cho mọi kẻ nghèo khó, nhất là đồng bào Thượng trong địa phận mình... Nào ngờ khi nhận được thư hồi âm của Đức Cha Sài-gòn, cha nôn nao đọc với điệu bộ hí hởn vui mừng, bỗng dưng mặt ngài tái lại, nét da xanh mét lại càng xanh mét thêm rõ rệt hơn. Trong thư, Đức Thầy khiển trách nặng nề, cho rằng rửa tội quá vội vàng, ngài phê rằng: “Thượng mà cho theo đạo có một người, thì chỉ có Chúa mới biết trước được nó sẽ giữ đạo bền hay không.” Như vậy là Đức Cha gián tiếp ra lệnh phải cố gắng gấp hai để cho gia đình K’Brai và bà con thân thuộc của anh ta cũng nhận ánh sáng Phúc Âm để họ nâng đỡ nhau giữ vững đức tin.”  [30] Và Chúa đã thêm sức cho nhà truyền giáo để ngài cố gắng nhiều hơn. Kết quả là vào dịp lễ Giáng Sinh năm đó, cả gia đình anh K’Brai gồm tám người đã lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Rồi nhờ sự trợ giúp của người tân tòng nhiệt tình và ngoan đạo này, con số người Thượng dự tòng năm 1931 lên đến 98 người  [31] .

Trong bản Phúc trình 1930, Đức Cha Dumortier đã viết những dòng sau đây, như gián tiếp ca ngợi các hoạt động của nhà truyền giáo: “Ước gì Chúa cho các ngôi nhà thờ và các trường học của chúng ta luôn trở nên bé nhỏ và bắt buộc chúng ta phải nới rộng và xây dựng thêm mãi! Nguyện ước này trở nên hiện thực nơi cha Cassaigne: người bạn của chúng ta đã nối dài nơi phượng tự của mình và còn thấy cần phải nới rộng hơn nữa. Là vì, bị chinh phục bởi lòng nhiệt thành và tình bác ái của ngài, người bản địa bắt đầu xin theo đạo. Ngài đã rửa tội và ban phép Thêm sức cho người tân tòng đầu tiên vào dịp lễ Thánh Giu-se, và nhiều gia đình đang xin trở lại. Ngoài ra, nhờ sự giúp đỡ của nhà cầm quyền, ngài đã lập một làng cùi. Chính ngài chăm sóc những con người khốn khổ này, và bằng một sự dạy dỗ vừa tầm của họ, ngài chuẩn bị cho họ được chết trong tư cách là người tín hữu...”  [32]

Khi cha Cassaigne tạm rời Di-linh để về Pháp chữa bệnh vào ngày 02/4/1932, họ đạo Di-linh của ngài, năm năm sau ngày thành lập, đã trở nên lớn mạnh một cách đáng kể: số giáo dân từ 5 người lúc đầu nay lên 109 người, gồm 60 người Việt, 31 người Pháp và 18 người Thượng; ngoài ra còn có 98 dự tòng. [33]

Đến lần thứ hai tạm rời Di-linh để nhận sứ mạng cao cả là làm Giám mục Giáo phận Sài-gòn, kế nhiệm Đức Cha Dumortier qua đời ngày 16/01/1940, “sau 14 năm lãnh đạo xứ Di-linh, từ 1927 đến 1941, cha Cassaigne đã gầy dựng cho vùng này một địa vị đáng kể trong cộng đồng Hội Thánh“  [34] : ngoài họ đạo Di-linh đã có nhà thờ hẳn hoi, với số giáo dân là 367 người (134 Kinh, 218 Thượng, 15 Pháp), chưa kể 78 giáo dân Thượng ở làng cùi và 133 dự tòng, phải kể thêm họ nhánh Bắc-hội được ngài thành lập năm 1928, họ nhánh Xuân-trường (Cầu Đất), họ nhánh Công-hinh (Bảo-lộc), cả hai nơi được ngài thành lập năm 1936, có cha phó Phê-rô Nguyễn Vĩnh Tiên phụ tá cho ngài từ năm 1934.

Trong bài tham luận Truyền giáo ở Đà-lạt đã được nói đến ở phần trên, Đức Cha Giu-se Võ Đức Minh đã viết: “Bước đường truyền giáo của cha Cassaigne thật là lạ lùng... (Ngài) đã mở ra cánh đồng truyền giáo trên vùng cao nguyên Đà-lạt, Di-linh, Bảo-lộc. Chúng ta thật ngỡ ngàng khi thấy một con người như thế được sai đến vùng đất mà hầu như chưa ai biết Tin Mừng của Chúa, để rồi sau đó mở mang đạo thánh Chúa không những ở vùng Di-linh, Ka-la, mà còn lan rộng đến Bắc-hội ở vùng Fimnom, lên tới Xuân-trường, nay là giáo xứ Cầu-dất, trải dài đến Công-hinh, tức giáo xứ Bảo-lộc ngày nay... Ngài đúng là “Ông Tổ các vị Thừa sai truyền giáo Thượng đầu tiên Đà-lạt”, như lời của Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền.”

Vào đầu năm nay, 2007, giáo xứ Di-linh kỷ niệm tám mươi năm thành lập giáo xứ. Một tập kỷ yếu nhỏ được biên soạn để đánh dấu sự kiện này. Tập kỷ yếu đó cho biết “Cha Cassaigne đã đi đến rất nhiều làng của người bản địa để truyền giáo. Nếu lần theo sổ Rửa tội của giáo xứ Di-linh từ năm 1927 đến ngày 13/5/1941, là ngày ngài rời Di-linh để nhận chức Giám mục Giáo phận Sài-gòn, cha Cassaigne đã rửa tội cho 280 người dân tộc thuộc 82 làng khác nhau (tiếp theo là danh sách của 82 làng của người bản địa). 82 làng dân tộc có mặt rộng khắp trên phần đất của tỉnh Lâm-đồng hiện nay – từ Đà-lạt qua Ryôngto, Đơn-dương, Di-linh, Bảo-lộc, có một số địa danh hiện nay không thuộc tỉnh Lâm-đồng nữa.”  [35]

Đến đây, ta có thể nói cha Cassaigne đã hoàn tất sứ mạng truyền giáo mà ngài đã được giao phó. Đó cũng là uớc nguyện mà ngài đã ấp ủ khi gia nhập Hội Truyền Giáo Paris. Nhưng tâm hồn đầy ắp tình thương của ngài đối với các linh hồn còn đưa ngài đi xa hơn, đi đến với những con người bị xã hội ruồng bỏ, bị gia đình và bản làng xua đuổi, những con người ngài gặp sống vất vưởng trong rừng, trần truồng, đói khát, lở loét, thối tha... Và ngài đã chọn phục vụ hạng người này. Vì vậy danh hiệu đúng nhất dành cho ngài phải là “Tông đồ của người phong cùi”.

Trong lá thư của Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Giáo phận Đà-lạt, gửi cha Giu-se Phùng Thanh Quang, đề ngày 22/02/1973, để chuẩn nhận và giới thiệu cuốn sách đã được trích dẫn nhiều lần ở các phần trên – Lạc quan trên miền Thượng – có đoạn viết:

“Năm 1965, trong khóa IV Công Đồng Va-ti-ca-nô II, nhiều Nghị phụ trầm trồ ca tụng cử chỉ cao đẹp của Đức Hồng y Léger, Tổng Giám mục Montréal (Canada), sắp xin từ chức, sang giúp người cùi ở Phi-châu. Tôi khiêm tốn đáp thưa: Bên Việt-nam chúng tôi, đã mười năm nay, có một vị Giám mục đang làm cha xứ, giám đốc và y tá một trại cùi ở địa phận Đà-lạt chúng tôi. Các Nghị phụ bỡ ngỡ, vì một biến cố như vậy, mà không mấy ai hay biết.”  [36]

Tháng 10/1929, cha Cassaigne đã viết một bản tường trình trong đó có đoạn nói về trường hợp của những người phong cùi như sau: “Nhà truyền giáo vĩ đại Giê-su đã làm gì trong cuộc đời trần thế của Người? Người rao giảng Nước Thiên Chúa, bằng Bác Ái và Yêu Thương; Người lôi kéo các trẻ nhỏ đến với Người và Người chữa lành các bệnh nhân, nhất là những người phong cùi. Nơi người bản địa, hạng người này thì đông lắm; họ bị bỏ mặc với nổi thống khổ của họ, và khi họ không còn đi đứng, hay lao động được nữa, vì chân tay của họ đã bị thối rửa, họ chỉ còn chết đói. Xin cho phép tôi kể một ví dụ. Trong số những con người bị bỏ rơi đó, có một anh chàng ở cách chỗ tôi khá xa, anh ta thường đến nhận phần gạo và cá khô của anh một cách đều đặn. Vì anh đi lại quá khó khăn, tôi nhờ người ta dựng cho anh một cái lều tranh bên cạnh nhà tôi ở; anh ta ở lại đó một đêm trước khi trở về làng... Đến mùa nóng bức, cũng là mùa có những cơn sốt rét cao, người cung cấp lương thực, trong suốt ba tuần lễ, không rời nhà được mà phải nằm li bì vì cơn bệnh quái ác hành hạ. Phần người được cung cấp lương thực, vì không còn đi lại được, nên không đến. Lo lắng vì sự vắng mặt kéo dài này, và lợi dụng một lúc hạ sốt, tôi lên đường đi tìm con chiên khốn khổ của tôi. Đến nơi, tôi không thấy anh ta trong căn lều tồi tàn trống hoác của anh, và người làng cho tôi biết anh đã chết được bốn ngày; vì không có cha mẹ, không có con cái, nên chẳng ai lo cho anh ta ăn uống, và anh đã chết mà không nhận được phép rửa tội, trong khi anh đã sẵn sàng. Lòng nặng trĩu, nhà truyền giáo trở về nhà, đau đớn không phải vì cơn sốt rét hành hạ mà vì đã để hụt một linh hồn... Ở Trung bộ cũng như ở Nam bộ, và hầu như khắp vùng Đông Á, có những làng cùi nơi đó bệnh nhân phong cùi được đón nhận và được chăm sóc; nhưng nơi xứ thượng này, chưa ai làm gì cho họ cả. Mà họ thì đông vô kể; mỗi làng đều có năm ba người; họ sống với gia đình bao lâu còn có thể làm việc được; nhưng rồi mau chóng bị loại trừ khi họ trở thành một miệng ăn vô ích và một vật ghê tởm... Tôi ao ước được qui tụ tất cả những con người khốn khổ đó trong một ngôi làng chỉ dành cho người phong cùi mà thôi, để có thể lúc nào cũng có họ bên mình, chăm sóc cho họ dễ dàng hơn, dạy dỗ họ đều đặn hơn và nhất là để không một linh hồn bất hạnh nào đi vào thế giới bên kia mà không mang theo cái thẻ vào thiên đàng... Bạn đọc thân mến, xin hãy giúp vị thừa sai trẻ chữa lành ít nữa là linh hồn của những người phong cùi bất hạnh của ngài!”  [37]

Chính cha Cassaigne đã thuật lại việc hình thành làng cùi như thế nào, trong bản tường trình tháng 10/1937: “Khoảng cuối năm 1928, trong một chuyến đi qua rừng, nhà truyền giáo tình cờ gặp một đám người phong cùi đã bị đuổi ra khỏi làng và đang náu ẩn trong một góc rừng. Họ không khiếp sợ khi thấy nhà truyền giáo; trái lại họ đã kêu lên với ngài tiếng kêu đã vang lên trên các nẻo đường xứ Ga-li-lê khi Thầy Chí Thánh tiến đến gần họ: “Cha ơi, xin thương xót chúng tôi!” Sau khi được trao đổi ý kiến, nhà cầm quyền Pháp đề nghị tài trợ; còn nhà truyền giáo thì đóng góp các khả năng chữa bệnh mà ngài đã thu thập được trong trận đại chiến, cùng với tấm lòng nhiệt thành của mình. Công việc được thỏa thuận. Việc sắp đặt diễn ra nhanh chóng và, ngày 11/4/1929, 21 bệnh nhân – ôi những bệnh nhân khốn khổ! mình đầy vết thương, dơ bẩn, đói khát và sợ sệt – trở thành chủ nhân của căn nhà tồi tàn này. Họ kinh ngạc khi thấy Ông Cha phân phát cho mỗi người mền, chiếu, quần áo mới và một phần ăn quá ư đầy đủ; họ không thể tin rằng tất cả những thứ đó là cho họ; vài người còn từ chối; họ sợ và tự hỏi tại sai người ta cho họ nhiều thứ như vậy. Người ta sẽ đòi lại cái gì đây?... Nhưng sự do dự của họ không kéo dài: vài ngày sau, một nhóm người phong cùi khác xuất hiện trong tình cảnh tương tự như nhóm trước... Số bệnh nhân tăng dần: từ năm 1935, con số đó vượt lên trên một trăm.”  [38]

Và làng cùi đã được hình thành như thế. Vị trí của làng nằm cách nhà xứ Di-linh khoảng trên dưới một cây số. Điểm đặc biệt của làng cùi này được Đức Cha Gioan Cassaigne mô tả trong một bài nói chuyện của ngài tại Sài-gòn ngày 03/01/1943, và được cha Giu-se Phùng Thanh Quang trích dịch trong cuốn sách của ngài: “Làng cùi Di-linh không phải là một nhà thương, cũng không phải là khu biệt cấm dành riêng cho bệnh nhân truyền nhiễm với những luật lệ nghiêm khắc. Đây là một ngôi làng với dân cư được chọn lọc kỹ, một vùng đất sống của người Thượng phong cùi. Làng Thượng này có tổ chức chu đáo, có nhà rộng, có phòng phát thuốc, phòng chiếu phim và nhà thờ hẳn hoi. Cũng có công viên, có đường sá được tu bổ giữ gìn kỹ lưỡng. Trưởng làng là một ông Thượng phong cùi; ông ta đứng ra lo an ninh trật tự cho ngôi làng nhỏ bé đó. Nhà cửa được cất theo kiểu người Thượng, nghĩa là nhà sàn, lợp tranh, cất riêng nhau thành nhiều chòi nhỏ, mỗi chòi chứa vài bệnh nhân đã được tự do lựa chọn nhau để sống chung cho vui vẻ... Trong làng này, người phong cùi sớm tối có nhau, được săn sóc, được an ủi, được nuôi dưỡng tử tế, tránh được những hiểm nguy của kiếp sống cô đơn nơi rừng vắng... Người cùng cảnh ngộ, cùng một mối ưu tư lo nghĩ về số kiếp bạc bẽo, thường sống với nhau rất thuận thảo.  [39]

Như lời Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền đã nói trên đây, tại làng cùi Di-linh, người điều hành tổng quát, người chăm lo đời sống tinh thần, người lo nuôi sống thể xác và băng bó các vết thương cho bệnh nhân cũng chỉ là một: cha Gioan Cassaigne. Hằng tuần, ngài đến làng cùi ba lần để chữa bệnh và phát thuốc. Những người bệnh nặng không tới phòng phát thuốc được thì được ngài đến chăm sóc tại chòi của họ. Và mỗi tuần một lần, vào ngày thứ bảy, ngài đến phân phát lương thực cho dân làng: gạo, cá khô, muối, thuốc hút. Từ tháng 9/1937  [40] , có các chị Nữ Tử Bác Ái đến tiếp tay với ngài, một nữ tu người Pháp và hai nữ tu người Việt. Như những người mẹ, các chị sẽ cúi xuống trên những vết thương của những người con bản địa khốn khổ, còn người cha thì chuyên lo chữa các vết thương linh hồn và lo cái ăn cho thân xác của họ.  [41]

Trong lời kết của bản tường trình tháng 10/1937, cha Cassaigne đã viết: “Người đàn bà phong cùi đầu tiên, về thiên đàng cách đây mười năm, đã giữ lời hứa. Còn tôi thì tin vào sự Các Thánh Thông Công.”  [42]

Năm 1948, những cơ sở đã được xây dựng hai mươi năm về trước nay xuống cấp trầm trọng, gần đến chỗ đổ nát. Hơn nữa, vì sự phát triển của Di-linh, việc đi lại giữa các buôn làng vùng Ka-la và Di-linh ngày càng nhộn nhịp; mà làng cùi lại nằm trên con đường giao thông giữa hai khu vực, nên việc đi băng qua làng là điều bắt buộc. Những lý do đó, kèm thêm môi trường độc hại trong đó các bệnh nhân phong cùi đang sinh sống, đòi hỏi phải tái thiết làng cùi tại một địa điểm mới, cao ráo, thoáng mát hơn.

Tháng Giêng năm 1952, công việc tái thiết được khởi sự. Địa điểm mới không cách làng cũ bao nhiêu; đó là ngọn đồi nằm ở ngã ba đường đi Ka-la và đường đi Phan-thiết như ta thấy ngày nay. Nhờ sự yểm trợ đến từ nhiều phía, công trình tái thiết chỉ kéo dài trong không đầy năm tháng. Ngày 22/5/1952, nhằm lễ Thăng Thiên, Đức Cha Cassaigne làm phép và khánh thành làng cùi mới, gồm có các cơ sở được xây dựng kiên cố: ngôi nhà nguyện nhỏ nhưng xinh xắn, với bàn thờ và bàn rước lễ bằng gỗ nguyên khối được chạm trỗ theo phong cách bản địa, các cửa sổ được ráp kính màu với ảnh của các chặng đàng Thánh Giá; xa hơn một tí là ngôi nhà dành cho cộng đoàn nữ tu; có phòng phát thuốc với tủ thuốc, phòng thí nghiệm được trang bị hiện đại, và phòng chăm sóc bệnh nhân; sau cùng, hơi thấp phía dưới là 16 nhà chòi được xây theo kiểu nhà sàn bản địa, mái tranh, tường gạch, nơi đó, khoảng một trăm bệnh nhân phong cùi, mà hai phần ba trong họ đã được rửa tội, tìm lại được khung cảnh gia đình của họ.  [43]

Và chúng ta đã biết, ngày 24/02/1941, cha Cassaigne nhận được quyết định bổ nhiệm ngài làm người kế vị Đức Cha Dumortier (qua đời ngày 16/02/1940). Bốn tháng sau, ngài rời Di-linh đi nhận nhiệm vụ mới tại Sài-gòn. Cha phó Gioan Chauvel, sau đó là cha Emile Grelier...  [44] thay ngài coi sóc họ đạo Di-linh và làng cùi; riêng việc thuốc men và chăm lo đời sống vật chất cho bệnh nhận phong cùi thì đã có các chị Nữ Tử Bác Ái đảm trách. Các cha làm việc tại điểm truyền giáo Ka-la cũng thường đến dâng thánh lễ và ban các Bí tích tại làng cùi, đó là cha Chauvel, rồi đến cha Jacques Dournes, cha Emile Grelier, cha Rubat du Mérac  [45] . Năm 1955, Đức Cha Cassaigne được Tòa Thánh cho từ chức, ngài về lại Di-linh, nơi ngài đã coi như quê hương của ngài, về lại giữa những người Thượng mà ngài coi như “núm ruột” của ngài.

Bản tin MEP tháng giêng 1956 đưa các tin sau đây về những ngày cuối cùng của Đức Cha Gioan Cassaigne tại Tòa Giám mục Sài-gòn:

Từ đầu năm 1947, sức khỏe của Đức Cha Cassaigne xấu đi rõ rệt. Thêm vào bệnh sốt rét cũ, và chứng suy gan của ngài, là sự giảm chất vôi cột sống rất đau đớn; và trên tất cả còn có một mối đe dọa: năm 1943, người ta đã tìm thấy trong cơ thể của ngài “vi trùng Hansen”.

Ngày 19/12/1954, kỷ niệm giáp năm thụ phong linh mục của ngài, Đức Cha khám phá trên cẳng tay, hơi xa cổ tay một chút, một vết màu hồng. Ngài lấy kim chích vào chỗ da đó thì không cảm thấy đau đớn gì cả, và cái vết kia ngày càng lan rộng ra.

Ngày 24/02/1955. Đức Cha đi gặp các bác sĩ thuộc viện Pasteur Sài-gòn. Kết quả xét nghiệm là: phong cùi dạng lao thần kinh! Nhưng các bác sĩ nói thêm: “Ngài đừng thay đổi gì trong các hoạt động và thói quen của ngài. Bệnh của ngài không lây!” Họ áp dụng cho ngài một cách điều trị có nguy cơ làm giảm hồng huyết cầu trong cơ thể.

Ngày 05/3/1955, Đức Cha Cassaigne viết thư cho Đức Cha Lemaire, Bề trên Cả Hội Thừa sai Paris để xin phép gửi lên Tòa Thánh đơn từ chức Đại diện Tông tòa Sài-gòn và về hưu tại làng cùi Di-linh.

Ngày 15/7/1955, sau nhiều lần nằm điều trị tại nhà thương Grall, Đức Cha Cassaigne viết thư cho Đức Cha Dooley, Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông dương, để xin từ nhiệm và về hưu tại làng cùi Di-linh, tại đó ngài còn có thể phục vụ và tự chữa bệnh, mà “không làm phiền ai và cũng không trở nên gánh nặng cho ai.”

Thứ Hai, 10/10/1955 (áp lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa), lúc 4 giờ chiều, Đức Cha Cassaigne thân tình thổ lộ cho cha Phát, quản lý của ngài: “Từ giờ phút này, tôi không còn là Giám mục của cha nữa... Chúng ta chấm dứt làm chủ Tòa Giám Mục này! Cố gắng đừng làm gì bậy nữa.” Chắc ngài mới nhận được tin Rô-ma chấp thuận đơn từ chức của ngài.

Cuối tháng 10/1955, Đức Cha Cassaigne trao vào tay Đức Cha Nguyễn Văn Hiền, người kế vị của ngài, quyền Đại diện Tông tòa Sài-gòn.

Thứ Tư, 30/11/1955. Lễ tấn phong Giám Mục của Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền tại Sài-gòn.

Thứ Bảy 03/12/1955. Đức Cha Cassaigne vĩnh viễn rời Tòa Giám Mục Sài-gòn để trở lại Di-linh sau 14 năm 6 tháng (24/6/1941-03/12/1955) ở trên ngai Giám mục.”  [46]

Cha Phan-xi-cô Darricau, một linh mục MEP, đã viết về sự kiện Đức Cha Cassaigne trở lại làng cùi Di-linh như sau: “Ngài đã về và đã được đón tiếp trọng hậu, tôn kính. Nhưng nhà chưa xây ngay được nên ngài đã đến ở chung với tôi tại Ka-la, cách trại phung hai cây số. Nhà xứ của tôi nhỏ, không cung cấp nổi cho ngài một căn phòng riêng. Ngài cũng không muốn lấy phòng của một đồng nghiệp. Chúng tôi lấy tấm màn ngăn phòng ăn làm đôi, một bên là giường nhỏ của ngài, một bên là cái bàn ăn... Suốt trong sáu tháng, chúng tôi có niềm vui được sống chung với nhau. Sau đó ngài tới sống tại căn nhà dành riêng cho ngài ở trại cùi. Nhưng trưa nào ngài cũng về Ka-la dùng bữa với tôi, khẩu phần có khá hơn trong trại... Bao nhiêu sức lực còn lại ngài dành để phục vụ trại phong. Sức ngài giảm nhiều so với trước kia, do những đau đớn của căn bệnh...”  [47]

Cha Christian Grison, người quản nhiệm cuối cùng của Trung tâm Thượng Di-linh (từ 1965 đến 1975), người đã gần gũi với Đức Cha Cassaigne trong mười năm cuối cùng của ngài tại làng cùi Di-linh, đã viết về vị Tông đồ người phong cùi như sau: “Tôi được phúc sống mười năm gần Đức Cha Cassaigne, vì thời gian đó tôi phụ trách xứ đạo thượng tại Di-linh. Tôi đã chứng kiến tình cảm ưu ái mà ngài khơi dậy khi ngài trở nên nhỏ bé với những kẻ nhỏ bé, trở nên phong cùi với những người phong cùi. Sự mến phục người ta dành cho ngài đó, không bao giờ ngài sử dụng vì lợi ích riêng của mình; tất cả được hướng về sự cứu trợ cho người phong cùi. Mối quan tâm duy nhất của ngài, tôi có thể nói là nổi ám ảnh đối với ngài cho đến khi ngài chết, đó là tìm nguồn tài trợ cho làng cùi... Nói về một người nào rằng đó là người tốt thì thật là tầm thường. Thế mà tôi không tìm được tính từ nào khác khi nói về Đức Cha. Ngài thường lặp lại như một điệp khúc câu nói: “Chỉ những cái được chia sẻ mới thật sự là tốt.”  [48]

Qua những chứng từ trên đây, chúng ta thấy được tấm lòng yêu thương và sự hy sinh cao cả mà Đức Cha Cassaigne đã dành cho những người phong cùi của ngài. Có thể áp dụng cho ngài câu của Thánh sử Gioan nói về Đức Giê-su: “Ngài đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1). Ngài đã sống trọn vẹn châm ngôn giám mục của ngài, “Bác ái và Yêu thương”, không phải từ khi làm Giám mục, mà phải nói là từ khi ngài chấp nhận đi truyền giáo cho những người Thượng Di-linh.

Ngày 31/10/1973, ngài trút hơi thở cuối cùng giữa những con cái phong cùi của ngài như ngài đã ước nguyện. Mộ ngài nằm bên cạnh ngôi nhà nguyện của người phong cùi, để họ có ngài ở với họ luôn mãi.

 

Nhà truyền giáo cho người Lạch

Người Thượng vùng Đà-lạt chưa sẵn sàng để đón nhận Tin Mừng. Sau thất bại của cha Nicolas, trong gần 30 năm, không có một nhà truyền giáo nào được sai đến vùng này với mục đích truyền giáo cho người bản địa. Cha Nicolas, như đã nói ở trên, không phải là người được Chúa chọn cho sứ mạng này. Mọi sức lực và tâm huyết của ngài được dành cho việc xây dựng họ đạo Đà-lạt, vừa theo nghĩa bóng vừa theo nghĩa đen.

Trở lại với người Thượng nơi cao nguyên Lang-Biang. Họ thuộc sắc tộc người Lạch, rất dè dặt đối với người lạ, không dễ dàng để cho người lạ lôi cuốn họ [49] . Nhưng khi có người thật sự được Chúa sai đến để truyền giảng cho họ, thì không những từng cá nhân mà cả những tập thể – đây là nói dân cư của cả một làng thượng – hân hoan được trở thành con cái Hội Thánh.

Và con người đó là cha Octave Lefèvre.

Theo lời cha Parrel [50] , cha sở họ đạo Đà-lạt từ 1948 đến 1961, thì chính ngài là người đầu tiên đã cùng đi đến các làng Thượng với một chị Nữ Tử Bác Ái; chị này đã có thời gian phục vụ tại Di-linh. Ngài đã không được tiếp đón thân mật lúc đầu. Người bản địa nghi ngờ ngài là người của nhà cầm quyền, đến để bắt họ đi làm phu, hoặc để ép con cái họ đi học... Ngài phải làm hết sức để xóa tan nghi ngờ của họ.... Dần dần ngài đã gây được sự tin tưởng của họ. Trong khi ngài đang băn khoăn chưa biết phải làm sao để vừa lo cho người Thượng mà ngài mới chiếm được cảm tình, vừa chu toàn cộng việc dạy giáo lý nơi các trường tại thành phố, thì xuất hiện cha Octave Lefèvre.

Cha Lefèvre sinh ngày 04/5/1907, thụ phong linh mục ngày 29/6/1931 và được chỉ định đi phục vụ tại địa phận Vinh. Ngài rời nước Pháp ngày 07/9/1931. Tháng Hai năm 1948, sau một thời gian vắng mặt, ngài đã không thể quay trở lại nhiệm sở của mình tại địa phận Vinh do thời cuộc thay đổi. Ngài được Đức Cha Cassaigne, Đại diện Tông tòa Sài-gòn từ năm 1941, nhận vào địa phận của mình, và được cử đi làm tuyên úy cho trường Trung học Đức Bà Lâm-viên được thành lập 12 năm về trước tại Đà-lạt, do các Nữ Kinh sĩ Thánh Au-gu-ti-nô (các Bà Oiseaux) điều hành.

Cha Parrel ghi lại rằng: “Thật là may mắn, Chúa Quan Phòng đã giúp đỡ tôi qua con người của cha Octave Lefèvre, thuộc địa phận Vinh, nay do hoàn cảnh đã trở thành người đồng bàn với tôi... Tôi rất vui vì ngài “khởi động”ngay và tỏ ra rất nhiệt tình đối với những con người tốt lành đó... Ngoài những hiểu biết về ca hát, ngài còn có một lỗ tai đặc biệt giúp ngài tiếp thu những nét tinh vi của ngôn ngữ với những âm tiết ngắn, dài, và những dấu thanh mà một lỗ tai không thuần thục thì khôngthể nào nhận ra được. Đàng khác, phải thêm rằng những chuyến đi bộ dài không hề làm cho ngài lùi bước, ngài cũng không hề biết chóng mặt và rừng rú thì ngài chẳng lạ lẫm gì! Sống ở Đô-lương (Cha Lefèvre đã phục vụ trong địa phận Vinh), giáp ranh với nước Lào, chẳng phải là vô ích!”

Nhóm sắc tộc đầu tiên được cha Lefèvre tìm đến, đang sinh sống tại một nơi cách Đà-lạt khoảng hai mươi cây số, có tên là người “Lạch” (Lat); thành phố Đà-lạt lấy tên từ bộ tộc này: Thành phố của người Lạch. Hai làng Thượng lớn nhất được ngài chú ý là làng Dangia (Đăng-kia) và làng Bon-dong. Hai làng này nằm gần nguồn và cạnh bờ con sông Da-dong, sông này sẽ mang tên Đồng-nai khi vào địa hạt thuộc người Kinh.

Trong những lần thăm viếng mà ngài thực hiện khá thường xuyên đến các làng này, cha Lefèvre đã học được tiếng nói của người Lạch; trong những chuyến đi đó, ngài cũng chữa lành nhiều bệnh nhân. Nhờ vậy phát sinh một sự hiểu biết, một sự tin tưởng lẫn nhau giữa vị linh mục và người Lạch.

Chính quyền thời đó đã quyết định xây trong thung lũng Lạch một đập nước lớn để tăng cường khả năng cung cấp điện của nhà máy điện Ankroet. Nếu việc đó xảy ra thì hai làng của người Lạch sẽ biến mất và người dân sẽ mất hết các thửa ruộng của họ. Cha Lefèvre tự nguyện làm trung gian để giải quyết những tranh chấp giữa người Lạch và đại diện chính quyền. Đặc biệt ngài đã đòi được cho các làng thượng những khoản bồi thường và việc tái lập hai làng Dangia và Bon-dong tại một địa điểm khác. Ngôi làng nhỏ Ankroet cũng muốn nhập vào nhóm làng này. Cả ba làng được tái lập ở chân núi Langbiang, thành làng Langbiang của người Lạch. Cha Lefèvre thích gọi đó là Làng Đức Bà, “Bon Me Marie”. Việc tái lập này thực sự hoàn thành vào những tháng đầu năm 1954.

Về mặt tôn giáo, đầu năm 1949, cảm mến lòng bác ái của vị tông đồ, làng thượng Dangkia xin theo đạo. Cha Lefèvre vui mừng chấp nhận lời thỉnh cầu của họ do các trưởng tộc trình lên. Ngài đáp lời họ bằng một cuộc cung nghinh Đức Mẹ chưa từng thấy, từ Đà-lạt vào chân núi Langbiang, lúc bấy giờ chưa có ngôi làng mới. Tượng Đức Mẹ do cộng đoàn Đức Bà Lâm Viên (Oiseaux) dâng cúng, còn đoàn rước gồm giáo hữu người Kinh và người Âu thuộc họ đạo Đà-lạt, cùng với học sinh các trường Công giáo trong thành phố, trường Oiseaux và trường La-san Adran.

Một cuộc cung nghinh tương tự diễn ra vào ngày 08/12 năm đó, để đáp lại lời cầu xin được theo đạo của làng Thượng Bon-dong.

Rồi nhanh chóng, Tin Mừng của Đức Ki-tô được loan truyền từ làng thượng này sang làng thượng khác, thì các cha – muốn nói là cha Lefèvre và Parrel cùng hợp tác – đều tổ chức cung nghinh Đức Mẹ đến với dân làng, trong chiều hướng trung thành với truyền thống của người bản địa là chế độ mẫu hệ. Khi những người Thượng “Phi-bre” trong hai làng Yengle và Bontron, nơi thượng nguồn sông Krong Kno, đến làm việc tại công trường xây dựng nhà dòng của các cha dòng Chúa Cứu Thế, họ cũng tiếp xúc với cha Lefèvre và nhiều lần ngài đến thăm họ tại làng của họ. Đó là khởi thủy xa xôi của giáo điểm và Trung tâm Thượng Fyan sẽ do các cha dòng Chúa Cứu Thế cai quản, kể từ năm 1955.

Bản tường trình về các hoạt động trong niên khóa 1954-1955, bản tường trình cuối cùng của cha Lefèvre, đưa ra những con số sau: 17 làng Thượng theo đạo, gồm khoảng 2000 người đã lãnh Bí tích Thánh Tẩy và tân tòng...

Trước làn sóng người xin theo đạo, cha Lefèvre biết cách tổ chức và thích nghi để trình bày sứ điệp Tin Mừng cho họ. Ngài đã dịch sang tiếng Lạch những bản kinh thông dụng và những bài giáo lý, nhờ sự cộng tác của ông Y-Sick-Niê, giám đốc trường công lập dành cho người Thượng, được xây dựng năm 1948. Và đến những ngày cử hành một cách long trọng nghi thức ban Bí tích Thánh Tẩy: ngày mồng một tháng 11 năm 1950, ngày 13 tháng 12 năm 1953, ngày 31 tháng 11 năm 1954, ngày 14 tháng 12 năm 1954... Cha Lefèvre rất chú trọng đến việc cử hành ngày lễ Giáng Sinh. Đó là dịp để ngài quy tụ đông đảo các tín hữu và những người có cảm tình đến từ những buôn làng xa xôi. Từ năm 1949 đến năm 1951, thánh lễ được cử hành tại khuôn viên trường Đức Bà Lâm-viên. Trong hai năm 1952 và 1953, cuộc lễ diễn ra tại Trung tâm Thượng Cam-ly. Năm 1954, lễ Giáng Sinh được cử hành tại làng Thượng Langbiang đang hình thành. Có khoảng hai ngàn người tham dự.

Nói về Trung tâm Thượng Cam-ly. Vì tình hình an ninh không được tốt vào những năm đó, cha Lefèvre không thể lưu lại tại các làng Thượng trong những chuyến đi mục vụ. Do đó, với sự ủng hộ của cha Fernand Parrel, ngài quyết định lập một “Trung tâm Thượng” ở ngoại vi thành phố Đà-lạt, không xa thác Cam-ly, đối diện với ngọn đồi trên đó có trường Đức Bà Lâm-viên. Năm 1951, bắt đầu xây dựng các phòng học, một phòng y tế, một nhà vãng lai, nơi đó, mỗi lần đến Đà-lạt, người Thượng có thể ở lại bao lâu tùy thích. Cũng sẽ có một nơi thờ phượng và một nơi ở cho các cha, cho các nữ tu và nhân viên sẽ được kêu gọi đến làm việc tại đây... Sau khi được cha Parrel khánh thành vào ngày 01/11/1952, Trung tâm Thượng Cam-ly phát triển và hoạt động cho đến tháng 4 năm 1975.

Ngoài việc đem Tin Mừng đến cho người Thượng, cha Lefèvre còn quan tâm đến việc giáo dục và đào tạo họ thành những người trợ tá cho ngài trong việc dạy giáo lý cũng như nâng cao dân trí cho đồng bào của họ. Một mặt ngài gửi các thanh thiếu niên nam đến học tại trường Adran do các sư huynh La-san điều khiển. Hai em người Lạch đầu tiên đi học tại đó là K’Bô Panting và K’Meng Krajan. Học xong, K’Bô về dạy tại Trung tâm Thượng Cam-ly cho đến năm 1975, còn K’Meng thì điều khiển một trường tiểu học được thiết lập tại làng thượng Langbiang, trong cùng thời gian đó. Do kết quả tích cực của việc thử nghiệm này, về sau nhiều thanh thiếu niên Lạch được hướng đến các trường trung học khác nhau trong thành phố Đà-lạt.

Là tuyên úy của trường Đức Bà Lâm-viên, cha Lefèvre đã huy động sự cộng tác của Cộng đoàn nữ tu và học sinh của trường vào công việc truyền giáo và hoạt động xã hội của ngài, như dạy giáo lý, thăm viếng, chăm sóc sức khỏe cho người Thượng tại Trung tâm Cam-ly cũng như tại làng Thượng Langbiang.

Ngoài ra ngài cũng được sự cộng tác của các đồng nghiệp trong hàng giáo sĩ thuộc Hội Thừa Sai Paris, như các cha Pierre Ripaud, Henry Desplanque và Marius Boutary.

Đối với các thiếu nữ Lạch, vào năm 1953, ngài mua một miếng đất cạnh Trung tâm và xây dựng một trường Nữ Công Gia Chánh; ngài mời hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán đến điều hành. Hai chị này, vào năm 1954, nhường chỗ cho các nữ tu Mến Thánh Giá Hà-nội, từ miền Bắc di cư vào, sau hiệp định đình chiến Genève. Tháng 5 năm 1955, trường bắt đầu hoạt động với khoảng trên mười thiếu nữ Lạch, tuổi từ 18 đến 20.

Từ tháng Bảy đến tháng Mười Hai năm 1954, Trung tâm Thượng Cam-ly đón tiếp khoảng 600 người di cư dân tộc Thái là những người Thượng miền Bắc. Vì có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết, cha Lefèvre được yêu cầu lo cho đám người mới đến này. Ngài đã đưa họ đến định cư tại vùng Liên-khương Gougah.

Trung thành với trách nhiệm mục tử, hằng tuần ngài đều đặn đến dâng thánh lễ tại một trong các làng thượng. Ngài thường được ông Y-Sik-Niê đi cùng; ông này phụ trách dẫn lễ và bổ túc những lời giảng dạy của cha Lefèvre.

Tưởng rằng cha Octave Lefèvre có thể làm việc lâu dài cho người Thượng Đà-lạt nay đã trở nên thiết nghĩa với ngài, thì một biến cố bất ngờ xảy ra, gây thương tiếc cho nhiều người, cách riêng cho con cái người Lạch của ngài. Ngày thứ Tư, 26/10/ 1955, sau khi đi thăm cha Moriceau tại Di-linh cùng với cha Desplanque và ông Y-Sik-Niê, trên đường về, chiếc xe jeep do ngài lái bị lật. Ngài bị thương nặng, được đưa lên bệnh viện quân y tại Đà-lạt. Tại đây ngài đã tắt thở vì vết thương nơi ngực quá nặng. Xác ngài được đưa về quàn tại Trung tâm Thượng Cam-ly. Lễ an táng được cử hành tại nhà thờ Đà-lạt, ngày thứ bảy, 29/10/1955. Không kể các vị chức sắc đạo đời, rất đông tín hữu – trong đó có đến hơn một ngàn người Lạch – đến tham dự thánh lễ. Điều đó nói lên sự ngưỡng mộ của mọi người, sự thương mến đặc biệt của người Thượng, dành cho vị tông đồ truyền giáo. Ngài được mai táng tại nghĩa trang dành cho người Âu, sau lưng nhà thờ Đà-lạt.

Một học sinh Lạch đã bày tỏ như sau sự thương tiếc của mọi người: “Chiều thứ Tư (ngày xảy ra tai nạn), tất cả chúng tôi đã khóc, vì thương tiếc con người nay đã trở nên thật sự là cha của chúng tôi. Từ sáu năm nay, ngài làm công việc của Chúa. Ngài đã rửa tội cho chúng tôi để linh hồn của chúng tôi được trong trắng. Ngài cũng tha tội cho chúng tôi để giải hòa chúng tôi với Chúa, Ngài đã giúp đỡ người Thượng chúng tôi hết lòng và hết sức lực của ngài. Ngài đã dạy chúng tôi thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Ngài cứu giúp những người nghèo khó. Ngài giúp đỡ mọi người chúng tôi, những người Thượng nghèo khó, cả khi chúng tôi chưa biết Thiên Chúa.”  [51]

 

Các vị thừa sai tiếp tục sự nghiệp của cha Octave Lefèvre tại Trung tâm Thượng Cam-ly, Đà-lạt

Tuy sự ra đi của cha Lefèvre ở tuổi 48 là một mất mát to lớn cho công cuộc truyền giáo nơi các sắc tộc thiểu số vùng Đà-lạt, nhưng các cộng sự viên của ngài, cha Desplanque và cha Boutary, đã tiếp tục công trình tốt đẹp mà ngài đã gầy dựng trong hơn sáu năm qua, với một lòng nhiệt thành hăng say không kém.

Sau đây là sơ lược đôi nét về các cha đã góp phần vào công trình của cha Lefèvre, khi ngài còn sống cũng như sau khi ngài qua đời.

 

Cha Marius Boutary

Trong một bài viết tựa đề “Tiếng Vâng của Sư huynh Emilien”, cha Boutary cho biết chính ngài đã đem hai thiếu niên Lạch nhập học tại trường Lasan Adran vào năm 1950, như đã nói ở phần trên. Bài viết được đề tháng 6/1984 và được gửi đi từ một thành phố trong nước Tân Ca-lê-đô-ni, một đảo quốc nhỏ ở miền đông nước Úc. Hai thời điểm này – 1950 và 1984 – cho phép chúng ta nghĩ rằng cha Boutary đã đến Đà-lạt và làm việc cho người Thượng trước năm 1950, ngài đã rời Đà-lạt sau tháng 4/1975 và đi truyền giáo tại một nước thuộc châu Đại Dương.

Năm 1963, khi còn ở Đà-lạt, cha Boutary đã viết một quyển sách về công cuộc truyền giáo của các Thừa sai, có tựa đề là Các vị Thừa Sai và Người Thượng, mà phần thứ nhất – phần Lịch sử, dài 33 trang khổ A4 – được tìm thấy trong MEP, tài liệu 72  [52] . Với tư cách là người kế vị cha Lefèvre, cha Boutary đã viết lại lịch sử hình thành và phát triển của Trung tâm Thượng Cam-ly mà chính ngài đã góp một phần rất lớn trong gần 25 năm tồn tại của nó.

Chúng ta đã biết, qua phần trình bày ở trên, giai đoạn đầu của hành trình truyền giáo mà cha Lefèvre đã thực hiện cho các buôn làng người Lạch ở vùng thượng nguồn sông Da-Dong, giai đoạn mà ngài hoạt động bên cạnh Cha Parrel, cha sở họ đạo Đà-lạt. “Nhưng trước phong trào trở lại xem ra vững chắc và nghiêm túc, cần phải nghĩ đến việc xây dựng tại Đà-lạt một Trung Tâm dành cho người Thượng. Để cho hoạt động được hữu hiệu, cần tách khỏi cộng đồng người Việt, rất khác biệt về sinh hoạt, về suy nghĩ, về tâm lý và về tập quán. Năm 1950, các cha đã tậu được một khu đất không xa thác Cam-ly, ở vùng ngoại vi thành phố.”  [53]

Năm 1951, khởi công xây cất: một phòng phát thuốc, một nhà vãng lai, một trường học. Các cha được phép giảng dạy tại trường nhà nước dành cho con em người Thượng (được mở năm 1948). Hiệu trưởng là ông Y-Sik Niê đã dược nói đến trên đây, một cảm tình viên và là người phụ tá của cha Lefèvre. Cha Ripaud dạy môn toán và kỹ thuật làm vườn. Năm 1950, cha Boutary đã đưa hai thiếu niên Thượng đầu tiên đến học tại trường Adran của các Sư huynh La-san. Năm 1952, các cha Boutary, Desplanque và Ripaud được mời đến dạy tại đây. Các ngài nghĩ đến khả năng có một ngôi trường riêng để có thể dễ dàng dạy giáo lý. Trong thời gian đầu, các trẻ em người Thượng được những học sinh lớn của trường Oiseaux dạy giáo lý cho; chính ông Y-Sik làm thông dịch viên cho học sinh nói tiếng Thượng và cô giáo nói tiếng Pháp.

Trong các năm 1951 và 1952, nhiều buôn làng mới xin theo đạo: Pang-Tiang, Mang-Lênh, Ankroet, Dong Krean...

Tháng 10/1952, bắt đầu một năm học mới tại trường ốc do các cha xây dựng với 19 học sinh. Các cha Ripaud, Desplanque và Boutary, đảm trách các môn học. Các ngài bắt đầu tổ chức Trung tâm, trong khi cha Lefèvre lo công việc truyền giáo tại các buôn làng. Lúc này, ngài có nhiều trăn trở vì công trình thủy điện Dankia đã bắt đầu. Phải thương lượng với giới chức chính quyền để cho người Thượng có chỗ tái định cư. Vị trí đó sẽ là khu đất ở chân núi Lang-biang  [54] .

Ngày 01/11/1952, Trung tâm Thượng Đà-lạt được khánh thành. Nghi thức được đánh dấu bởi việc rước vào Trung Tâm một tượng Đức Mẹ do nhà Dòng Oiseaux tặng... Một thánh lễ ngoài trời do cha Parrel, cha sở Đà-lạt, cử hành. Tiếp theo thánh lễ là nghi thức rửa tội cho một số trẻ em các làng Dangia và Bon-Dong...

Các buôn làng tiếp tục xin theo đạo. Năm 1953, cung nghinh Đức Mẹ vào làng Dong Krean. Các tín hữ đầu tiên của các cha trở thành những tông đồ truyền giáo. Trong các chuyến đi buôn, họ không ngần ngại rao truyền đức tin của họ, đến tận thung lũng nằm ở khoảng giũa sông Krong-Kono...

Ngày 13/12/1953, lễ rửa tội cho hầu hết những người lớn làng Dangia. Ngày 31/01/1954, đến lượt các người lớn làng Bon-Dong. Ngày 12/12/1954, lễ rửa tội cho các thanh niên nam nữ tại khu đất mới, nơi thành lập làng Lang-biang. Từ đó các trẻ em được rửa tội chỉ một thời gian ngắn sau khi sinh ra. Trong hai năm 1954 và 1955, Đức Cha Cassaigne đến ban phép Thêm Sức cho tất cả những người lớn đã được rửa tội.

Năm 1954, hiệp định Genève và nước Việt-nam bị chia thành hai miền. Trung tâm Thượng Cam-ly phải đón tiếp nhiều dân tị nạn thiểu số người Thái... Trong những tháng đầu năm này, các cha Lefèvre, Desplanque và Boutary rời hẳn nhà xứ Đà-lạt và dưỡng viện giáo đồ nơi các cha tá túc từ những ngày đầu, để đến ở luôn tại Trung Tâm...

Năm 1955, cung nghinh Đức Mẹ đến làng Klong, trên đường đi Sài-gòn. Tháng Năm, khai giảng lớp Nữ công Gia chánh tại Trung Tâm  [55] .

Ngày 26/10/1955, vào buổi chiều, vị sáng lập Trung tâm Thượng Cam-ly ra đi vĩnh viễn do tai nạn. Hai cha Desplanque và Boutary tiếp tục điều hành Trung Tâm và các giáo điểm.

Năm 1956, số học sinh đến học tại Trung Tâm gia tăng; đặc biệt có những học sinh nữ thường khó chấp nhận rời làng để đến Đà-lạt. Ngôi trường nhỏ được lập tại làng Lang-Biang bắt đậu nhận học sinh nhỏ. Mới chỉ có hai lớp...Trong năm nay, cha Desplanque đi nghỉ và cha Boutary được các cha Grelier (từ Di-linh) và Kermarec (từ Huế) đến tiếp tay.

Năm 1957, hai làng người Cil rất xa, nơi miền núi Dong-Kono và Bon Ja Dong-Trang, xin trở lại. Năm 1958, cung nghinh Đức Mẹ vào làng Dong-Kono. Cũng trong năm này, tiếp tục công trinh xây dựng nhà thờ Lang-Biang đã được bắt đầu từ năm ngoái. Tháng Giêng năm 1959, nhà thờ được Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền làm phép.

Năm 1961, có các cha Laxenaire và Grison đến học tiếng và làm việc tại Trung tâm. Tháng 12, bắt đầu việc dọn đất để xây nhà thờ Cam-ly. Trong cuốn Lịch sử Giáo phận Đà-lạt, có đoạn nói về ngôi nhà thờ này như sau: “Nằm ngay ở thành phố Đà-lạt, gần thác Cam-ly. Đây là ngôi nhà thờ do cha Boutary, thuộc Hội Thừa sai Paris, cùng với nhà thầu Nguyễn Thanh Hổ xây cất để phục vụ giáo dân dân tộc. Công cuộc xây cất kéo dài từ 1960 (?) đến 1968. Ngôi nhà có kiến trúc kiểu nhà rông với hai mái dốc đứng (cao khoảng 17 mét) được lợp bằng 80.000 viên ngói thẳng, nặng trên 90 tấn... Nơi tiền đường có hình hai con thú mà người dân tộc vốn tôn sùng: con cọp tượng trưng cho sức mạnh, con phượng hoàng tượng trưng cho sự tinh khôn. Người dân tộc cảm thấy an toàn khi có con cọp canh giữ ở gần và con phượng hoàng báo tin từ xa... Tại cung thánh, một bàn thờ (3,9m x 0,9m) làm bằng gỗ của một cây thông được lấy từ đỉnh núi Langbiang, được phơi khô 15 năm trước khi khởi công xây dựng nhà thờ. Dưới chân Thánh Giá, có treo ba cái đầu trâu. Đối với người dân tộc, con trâu vừa là bạn khi cày cấy, vùa là con vật được dùng để tế Yàng khi được mùa.”  [56]

Song song với việc giảng dạy và đào tạo, các cha tại Trung tâm Thượng Cam-ly còn quan tâm đến việc dịch thuật đã khởi sự từ năm 1949, với sự cộng tác của các giáo viên Lạch đã được gửi đi đào tạo tại các trường trong thành phố, cách riêng tại trường Lasan Adran. Lần lượt từ năm 1957, các cha cho ra đời những bản dịch các kinh thường dùng, các sách giáo lý, các sách bài hát, các sách Kinh Thánh, sách lễ...  [57]

 

Cha Henry Desplanque

Sau khi bị trục xuất khỏi Trung Quốc  [58] – chắc là sau khi thiết lập Nhà Nước Cộng Hòa Nhân Dân vào năm 1949 – cha Desplanque đã đến Việt-nam để tiếp tục sứ mạng truyền giáo mà ngài đã chọn.

Trong tập In Memoriam của Hội Truyền Giáo Paris, số 5, có ba bài viết về cha Octave Lefèvre, bài thứ ba, với tựa đề: “Cha Octave Lefèvre – Sự nghiệp truyền giáo của ngài”, cho biết cha Henry Desplanque đến Trung tâm Thượng Cam-ly vào năm 1952, nhập vào nhóm các cha Lefèvre-Boutary. Còn cha Boutary, như chúng đã thấy trên đây, thì nói rằng, vào năm 1952, ngài đã cùng các cha Desplanque và Ripaud được mời dạy học tại trường Lasan Adran Đà-lạt. Cũng chính cha Boutary cho biết rằng trước năm 1954, ngài cùng các cha Desplanque và Lefèvre tá túc tại nhà xứ Đà-lạt, cạnh cha Parrel. Sau khi cha Lefèvre qua đời do tai nạn năm 1955, cha Desplanque và cha Boutary điều hành công việc tại Trung tâm Thượng Cam-ly. Mãi đến năm 1959, chúng ta vẫn còn thấy ngài làm việc tại Trung tâm này, theo lời cha Boutary, như đã nói đến trên đây.

Theo cuốn Lịch sử Giáo phận Đà-lạt, thì năm 1961, cha Desplanque được điều về giáo điểm Ka-la để giúp cha Rubat du Mérac. Ngài phải học một thứ tiếng mới – tiếng Sre – để có thể làm việc cho người Thượng ở vùng này. Cũng theo tài liệu này, năm 1963, cha Desplanque rời Ka-la về Sài-gòn.

Các tài liệu tiếp cận được chỉ cho biết chừng ấy điều về vị Thừa sai này.

 

Cha Jean Kermarec

Ai đã có dịp gặp cha Kermarec đều cho rằng ngài có khuôn mặt giống Chúa Giê-su. Nhưng không phải chỉ có khuôn mặt mà thôi, mà cả tính tình của ngài cũng gợi cho ta hình ảnh của Vị Mục Tử hiền lành và khiêm nhượng.

Tài liệu số 68 trong tập MEP  [59] , có nội dung là các bản đúc kết của Đại Hội MEP tổ chức năm 1974 tại Paris, cho biết cha Kermarec, sau khi bị trục xuất khỏi Trung Quốc, đã hoạt động một thời gian tại Hong-Kong, rồi tại trường Thiên-Hựu (Providence) Huế, đã lên Đà-lạt năm 1956, để tiếp tay với cha Boutary.

Chúng ta còn thấy tên của ngài được nêu lên trong các Bản phúc trình hằng năm của MEP, từ 1957 đến 1970. Nhưng MEP, tài liệu 69, là một bài viết của ngài, có tựa đề là “Dalat, Un Séminaire de Traductions – Trại dịch thuật Đà-lạt – 04 - 29/3/1974”; do đó ta có thể kết luận là cha Kermarec vẫn có mặt tại Đà-lạt cho đến thời gian cuối cùng trước ngày 30/4/1975.

Qua các tài liệu MEP, chúng ta biết được ngài là một họa sĩ. Các tập sách kinh, sách lễ và sách giáo lý đã được ngài trang trí bằng những hình ảnh minh họa đặc sắc. Ngài cũng đã trang trí bức tường phía trước của Tòa Giám Mục Đà-lạt bằng những hình ảnh độc đáo (nay không còn nữa).

Ngài cũng đã để lại những bài viết sâu sắc về phong tục tập quán, về tín ngưỡng của người Thượng vùng Đà-lạt. Chúng ta có thể kể: “Les Pauvres sont évangélises – Người Nghèo được rao giảng Tin Mừng”  [60] , “Les Cornes de la Réconciliation – Những cái Sừng hòa giải”  [61] , Sang et Jarre – Máu và Chóe rượu”  [62] .

Trước khi kết thúc phần nói về cha Kermarec, chúng ta hãy trở lại với bài viết của ngài về Trại dịch thuật Đà-lạt đã nói đến trên đây. Trong phần cuối của bài viết, cha Kermarec đã đưa ra một đề nghị hết sức bất ngờ và táo bạo. Ngài viết: “Tôi đã không thể không chú ý đến một khoảng trống: sự vắng mặt của các đại diện Phật giáo (Tham dự viên của Trại Dịch Thuật chỉ gồm có các đại diện Công giáo và Tin lành mà thôi). Trong một đất nước thấm nhuần văn minh và văn hóa Phật giáo, người ta có thể dịch cuốn Kinh Thánh mà không nhìn về phía họ và không yêu cầu sự cộng tác của họ sao? Một cuốn Kinh Thánh phổ cập cho mọi người, có nghĩa là cho cả người Phật giáo. Về điều này, chính họ cũng có cái gì đó để nói với chúng ta. Kinh Thánh mang tâm tình của người mẹ. Vì là mẹ, Kinh Thánh muốn trò chuyện với hết mọi người là con cái của mẹ, muốn được nghe nói về mình, muốn được biết đến, muốn được thấu hiểu. Kinh Thánh muốn nói riêng với mỗi thành viên của đại gia đình nhân loại, cũng như ánh sáng Mặt trời,

để chúc phúc cho mỗi vầng trán và làm chín từng giọt mật, xâm nhập vào trong mỗi con tim và trong mỗi túp lều tranh, tự chia ra từng phần nhỏ mà vẫn trọn vẹn là chính mình, như tình thương của mẹ hiền.”

Những dòng trên đây càng làm cho chúng ta nghĩ về ngài là người phản ánh một cách trung thực khuôn mặt của Vị Mục Tử hiền lành và khiêm nhượng.

 

Các Cha Dòng Chúa Cứu Thế

Trên đây  [63] , chúng ta thấy cha Octave Lefèvre đã từng tiếp xúc với các người Thượng Cil đến từ các buôn làng ở tận vùng thượng nguồn dòng sông Krong Kno; họ đến làm việc tại công trình xây dựng dòng Chúa Cứu Thế tại Đà-lạt. Sau đó ngài đi thăm họ tại ngay buôn làng của họ. Cộng đồng tín hữu người Thượng và Trung tâm Thượng Fyan của các cha Dòng Chúa Cứu Thế có nguồn gốc từ đó.

Cha Boutary trình bày, trong cuốn Các Vị Thừa Sai và Người Thượng  [64] , hoạt động truyền giáo của các cha Dòng Chúa Cứu Thế trên địa bàn Giáo phận Đà-lạt, một cách nào đó, như là sự tiếp nối công trình của cha Octave Lefèvre, mặc dầu các ngài không phải là các vị Thừa sai thuộc Hội Truyền Giáo Paris. Thật vậy, các cha Dòng Chúa Cứu Thế, không những đã bắt đầu các hoạt động của mình ngay sau khi cha Lefèvre qua đời, mà các ngài còn sử dụng những con người đã được đào tạo tại Trung tâm Cam-ly của cha Lefèvre, cũng như đã áp dụng những kinh nghiệm của ngài trong việc đi đến vời người bản địa. Chúng ta sẽ thấy các cha Lazaristes, thuộc Tu hội Truyền giáo Vinh-sơn, cũng làm công việc tương tự tại vùng Diom, ở Đơn-dương, từ năm 1961, tiếp nối công trình mà cha Darricau thực hiện cho người dân tộc Churu tại đó.

 

Vị thừa sai hoạt động xã hội

Cha sở thứ tư của họ đạo Đà-lạt là cha Fernand Parrel.

Sinh năm 1907, Cha Parrel đến Việt-nam vào đầu thập niên 30 của thế kỷ trước, làm giáo sư tại chủng viện Sài-gòn; năm 1940, kế nhiệm cha Decoopman trong chức vụ Quản lý Tòa Giám mục. Sau một thời gian nghỉ dưỡng tại Pháp, ngài được Đức Cha Gioan Cassaigne bổ nhiệm làm cha sở họ đạo Thánh Nicolas, Đà-lạt, thay Cha Nicolas. Ngài coi sóc họ đạo Đà-lạt trong 13 năm, từ 22/4/1948 đến 21/5/1961. Thời gian này bị gián đoạn vào khoảng năm 1954-1955, lúc đó cha sở Parrel phải về điều trị bệnh tim tại Sài-gòn, người tạm thay thế ngài là cha Delbor. Khi giáo phận Đà-lạt được thiết lập, 24/11/1960, nhà thờ thánh Nicolas trở thành Nhà thờ Chánh tòa của giáo phận mới, ngài là cha sở đầu tiên của Nhà thờ Chánh tòa. Sau khi rời Đà-lạt, ngài dành trọn thời gian cho các hoạt động xã hội. Tháng 12/1967, ngài trở lại thăm Đà-lạt, dịp lễ truyền chức linh mục của cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, người học trò giúp lễ của ngài năm xưa và được ngài cho vào tiểu chủng viện thánh Giu-se năm 1949.

Tài liệu đầu tiên nói đến tên của ngài là Bản tường trình năm 1934 của Đức Cha Dumortier  [65] : “Là tuyên úy của Hướng Đạo Pháp tại Sài-gòn, cha Parrel đã có sáng kiến thành lập, vào tháng 10/1933, một đội Hướng Đạo gồm người Việt Công giáo và người bên lương có thiện chí, chấp nhận phục tùng kỷ luật của Hướng Đạo Pháp... Sau tám tháng thử thách, ngày 01/7/1934, có năm hướng đạo người Việt Công giáo được phép tuyên hứa, nhận tên đội là Bá-Đa-Lộc (Đức Cha Pigneau de Béhaine). Nghi thức diễn ra tại mộ của Đức Cha Adran (Bá-Đa-Lộc), và các tân Hướng đạo sinh nhận phép lành của Đức Cha Dumortier...” Chi tiết này, và nhiều sự kiện khác nữa sẽ được nói đến sau này, cho thấy vị Thừa Sai này là con người năng nổ trong các hoạt động xã hội.

Nhưng khi được bổ nhiệm làm cha sở họ đạo Đà-lạt vào năm 1948, như chúng ta đã thấy trong phần nói về cha Lefèvre, ngài đã hăng hái tìm đến với những người bản địa vùng rừng núi Langbiang để rao giảng Tin Mừng cho họ, mặc dầu công việc mục vụ nơi họ đạo và việc dạy giáo lý ở các trường đòi hỏi ngài phải bỏ ra nhiều công sức và thời gian. Ngài đã không ngần ngại học tiếng của người Thượng để có thể tiếp xúc với họ, tại các buôn làng, nơi ngài đến thăm viếng và giúp đỡ họ, hay tại nhà xứ, nơi chính họ tìm đến để xin được giúp đỡ.

Những cuộc cung nghinh Đức Mẹ vào các làng Thượng được tổ chức với sự cổ động và chỉ huy của ngài, đặc biệt lần đầu tiên, vào ngày 08/12/1950. Công trình xây dựng Trung tâm Thượng Cam-ly được thực hiện với sự hỗ trợ của ngài. Chính ngài đã khánh thành Trung tâm vào ngày 01/11/1952. Do công tác mục vụ không cho phép ngài dành nhiều thời gian cho công cuộc truyền giáo nơi người Thượng, nhưng sự quan tâm của ngài được thể hiện trong việc ngài luôn sẵn sàng giúp đỡ các cha phụ trách Trung tâm Cam-ly; chính ngài đã cung cấp nơi ăn chốn ở cho các cha trong những năm đầu, khi tại Trung tâm chưa có nhà ở cho các ngài.

Như đã nói ở trên, cha Parrel là con người hoạt động xã hội. Từ những năm đầu tiên khi mới đến Đà-lạt, ngài đã thành lập một Văn phòng Xã hội để nghiên cứu những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế và đời sống con người. Ngài tổ chức những Tuần lễ Xã hội, tại Đà-lạt, rồi tại Hà-nội, tại Sài-gòn, sau đó đến lượt Huế, Hải-phòng, Đà-nẵng, Nha-trang. Ngài cho xây dựng tại Đà-lạt một ngôi nhà làm Trụ sở của Văn phòng Xã hội, tại số 25 đại lộ Yersin, nay là đường Trần Phú. [66]

Ngài rất quan tâm đến việc thăng tiến con người về mặt tinh thần cũng như vật chất. Do đó ngài đã giúp các cha truyền giáo mở nhiều trường học cho người bản địa. Năm 1960, ngài mời các sư huynh Lasan đến điều hành một trường dạy nghề do ngài sáng lập. Đó là trường Kỹ Thuật Lasan, nay là trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật Lâm-đồng, trên đường Trần Phú.

Trong thời của ngài, đã nở rộ các ơn gọi tu trì, đặc biệt là ơn gọi linh mục, các phong trào công giáo tiến hành.

Trên đây là đôi nét về con người của cha sở Fernand Parrel. Có thể nói, ngài và cha sở Nicolas là hai khuôn mặt vĩ đại trong lịch sử của Họ đạo Thánh Nicolas trước đây và của Giáo xứ Chánh tòa Đà-lạt ngày nay. Tuy rằng dấu vết vật thể ngài để lại thì rất khiêm tốn – ngôi nhà vòm, hội quán của giáo xứ – nhưng ảnh hưởng tinh thần của ngài trên giáo xứ nói riêng, và trên giáo phận của chúng ta nói chung, thì khó mà thấy cho hết được!

 

Những vị thừa sai tiếp tục công việc của Đức Cha Gioan Cassaigne tại Di-linh và Ka-la

Tháng 6/1941, cha Gioan Cassaigne trở thành Giám mục, Đại diện Tông tòa Sài-gòn. Lúc bấy giờ, ngoài những điểm truyền giáo ngài đã xây dựng trong vùng Di-linh và các nơi khác, như Công-hinh, Bắc-hội, Xuân-trường, thì có họ đạo Di-linh, giáo điểm Ka-la và Kerlatap – Làng Cùi.

Sau đây là các vị Thừa sai đã thay thế Đức Cha Cassaigne trông coi ba trung tâm này, cho đến ngày những nơi đây được ủy thác hoàn toàn cho hàng giáo sĩ Việt-nam.

 

Cha Jean Chauvel

Cha Chauvel là vị Thừa sai đến Việt-nam (Sài-gòn) ngày 07/10/1938, và 19 ngày sau ngài được cử đi giúp Cha Cassaigne, thay cho Cha Nguyễn Vĩnh Tiên được đổi về Biên-hòa sau bốn năm làm cha phó Di-linh. Nhưng chưa được bao lâu thì chiến tranh Pháp-Đức bùng nổ; chính phủ Pháp ban lệnh tổng động viên; ngày 03/9/1939 linh mục trẻ Chauvel lên Ban-mê-thuột nhập ngũ. May thay, viên Tư lệnh vùng hiểu rõ tình trạng của ngài nên cho ngài được tạm hoãn dịch để về làm công việc mục vụ, sau hai tuần học quân sự. Ngài được cha Cassaigne phái xuống Công-hinh để qui tụ đám giáo hữu mới di dân đến và tổ chức việc nới rộng nhà thờ (được xây dựng năm 1936). Nhưng công việc chưa đi đến đâu thì, ngày 04/02/1940, ngài lại được lệnh nhập ngũ; lần này ngài bị đưa về Sài-gòn và phải mất một năm sau, vào ngày 05/3/1941, công cuộc vận động cho ngài được giải ngũ vì nhiệm vụ tôn giáo do cha Cassaigne thực hiện mới được chấp thuận  [67] .

Sau khi Đức Cha Cassaigne rời Di-linh, cha Chauvel thay thế ngài coi sóc họ đạo cho đến ngày 01/12/1941, khi cha Emile Grelier được cử đến làm cha sở, thì ngài chính thức đi nhận giáo điểm Ka-la. Đức Cha Cassaigne đã thành lập giáo điểm này vào đầu năm 1939. Nơi đây đã có sẵn một nhà tranh nhỏ dùng làm nhà nguyện.

Trong thời gian 5 năm coi sóc giáo điểm Ka-la, cha Chauvel đã xây cất được một nhà thờ bằng gỗ và một trường sơ cấp cạnh nhà thờ; trường được khai giảng từ niên khóa 1942-1943. [68]

Ngày 01/02/1946  [69] , trên đường đi Phan-thiết, cách Di-linh 80 cây số (?), ngài và cha Louis Gabillard, tuyên úy quân đội, đã bị giết trong một vụ phục kích.

Ngoài công việc rao giảng Tin Mừng, cha Chauvel cũng quan tâm bênh vực quyền lợi của người dân bản địa trước sự bốc lột trắng trợn của những chủ đồn điền hay những thương gia giàu có. Tài liệu 16 MEP là một thư viết tay của ngài gửi cho Đức Cha Cassaigne, vào năm 1943, trong đó ngài trình bày với Đấng Bản Quyền của ngài thực trạng bi đát của những người Thượng. Năm 1944, ngài viết một lá thư khác, đề ngày 09/11, gửi cho ông Michel, vị đại diện của những chủ đồn điền trong tỉnh Đồng-nai thượng, để phản đối việc họ trưng dụng người bản địa đi hái cà-phê cho họ, khiến những người này phải bỏ bê ruộng nương của mình đang mùa gặt, gây nên nhiều thiệt hại; đàng khác việc trưng tập đối với phụ nữ có con dại hoặc đang mang thai gây cho họ nhiều khó khăn và cực nhọc. [70]

 

Cha Jacques Dournes

Tài liệu số 9 trong tập IN MEMORIAM cho chúng ta những thông tin sau đây về cha Dournes: sinh ngày 27/5/1922 tại miền Bắc nước Pháp; thụ phong linh mục ngày 19/4/1945; gia nhập Hội Truyền Giáo Paris ngày 29/10/1945; được chỉ định đi truyền giáo trong địa phận Sài-gòn ngày 29/6/1946; lên đường sang Việt-nam ngày 28/10/1946.

Tháng 11/1946 cha Dournes đến Việt-nam, và khoảng chín tháng sau, vào ngày 20/7/1947, ngài được Đức cha Cassaigne gửi lên Di-linh, ở với cha Grelier đang làm cha sở tại đây, để học tiếng Ko-ho. Đầu tháng 12, ngài vào Ka-la trong tình trạng vắng linh mục do cha Chauvel bị phục kích chết như đã nói ở trên.

Là con người năng nổ, nhiệt tình, ngài bắt tay vào việc mở lớp học, lập hướng đạo sinh, rửa tội cho những tín hữu đầu tiên... Nhưng vì tính tình của ngài nóng nảy, ngài xử sự cứng rắn với người bản địa khiến con số tân tòng giảm đi rõ rệt; có nhiều gia đình rút lui. Trong một làng kia, ở xa hơn những làng khác, người ta không muốn đón tiếp ngài và cả sau này, không người nào trong làng đó đến gặp ngài. Dầu vậy, những cố gắng của ngài không hoàn toàn vô ích. [71]

Nhưng, tuy hoạt động hết mình cho công cuộc truyền giáo, ngài cũng làm việc đó với cái nhìn của một nhà nhân chủng học. Người ta biết về ngài là vị Thừa sai được tác động bởi một đức tin sâu xa, nhiệt thành và cương quyết trong hoạt động truyền giáo, say mê ngôn ngữ bản địa và thu lượm một lượng từ vựng đáng kể, nhờ đó thấu hiểu con chiên của mình hơn, củng cố sự trở lại của họ và lôi kéo những người khác. Ngài ghi chép tất cả mọi khía cạnh của đời sống bản địa, hệ thống tín ngưỡng bản địa; ngài rảo khắp lãnh địa của ngài, xây dựng và trang trí các nơi thờ phượng vì ngài cũng là một họa sĩ nghiệp dư nhưng có biệt tài, dịch sang tiếng Srê sách giáo lý và sách lễ. Người ta nhận thấy niềm đam mê nhân chủng học của ngài đã nảy sinh từ rất sớm, nhưng đó cũng chỉ là một khí cụ cho công việc tông đồ của ngài.

Ngày 28/4/1951, cha Phan-xi-cô Xa-vi-e Rubat du Mérac đến Ka-la. Rồi đến tháng 9/1952, thêm cha Grelier, nguyên cha sở Di-linh, cũng đến Ka-la. Với sự hiện diện của hai cha mới đến, cha Dournes nay chỉ còn chuyên lo cộng việc nghiên cứu ngôn ngữ và dịch thuật.

Trong bản tin MEP tháng 3/1952, cha Dournes để lại một ký sự về một “trại bay” mà ngài thực hiện năm 1951 với ba tráng sinh hướng đạo của ngài, vượt núi rừng, đến với bộ lạc Mạ ở B’Tong, trên đường Kinda, đi Ban-mê-thuột (6) . Cuộc thám hiểm kéo dài năm ngày này cũng được coi như là một chuyến đi truyền giáo hay một hoạt động y tế dành cho người bản địa. Nhiều người

(6) MEP. tài liệu 29 – Jacques Dournes, “Pistes”, 1952.biết về cha Dournes nói rằng ngài thường xuyên thực hiện những chuyến thám du khảo sát như thế với các học trò hướng đạo sinh của ngài.

Vì sự ngưỡng mộ mà ngài có đối với cha Charles de Foucauld, vị ẩn tu nơi sa mạc Sahara, ngài thường biên thư cho cha Voillaume, vị sáng lập huynh đoàn Tiểu Đệ. Có lẽ vì thế mà vào ngày 18/01/1953, Bà Magdeleine, người nữ tu sáng lập huynh đoàn Tiểu Muội Chúa Giê-su, đã đến Ka-la. Cùng với cha Dournes, bà đi thăm làng Nkrot, cách xa Ka-la khoảng 2 cây số, để thiết lập một cộng đoàn tại đó. Ngày 24/01, một khu đất rộng khoảng 1.000 mét vuông được các bô lão làng Nkrot bán cho Hội Dòng. Các nữ tu, được sự giúp đỡ của dân làng, cất lên một nhà nguyện và một “huynh xá”, trong tháng 2 và tháng 3; đến ngày 11/4/1953, cha Dournes đến khánh thành cơ sở của các Tiểu Muội, với sự hiện diện của gần hết dân làng.

Năm 1954, khi tiếng Việt là môn bắt buộc trong các trường học của người Thượng, cha Dournes thấy mình có bổn phận phải rời Ka-la, đi làm quen với một môn học mới mà ngài sẽ phải đưa vào chương trình của các trường học của ngài. Ngài trở về Pháp vào tháng 10/1954. Nhưng năm sau, khi trở lại Việt-nam, thì ngài được chỉ định đi truyền giáo trong địa phận Kontum; tại đây, Đức Cha Paul Seitz sai ngài đến với người Thượng Jarai, vùng Cheo-Reo... Nơi môi trường hoạt động mới, cha Dournes vẫn say mê nghiên cứu về con người bản địa, phong tục tập quán, tín ngưỡng và ngôn ngữ của họ.

Ngày 28/10/1970, ngài lại trở về Pháp để tiếp tục công trình nghiên cứu và viết sách.

Hai mươi ba năm sau, vào ngày 03/4/1993, ngài qua đời tại Bagard, trong tỉnh Gard, miền Nam nước Pháp. Ngài chết như một vị ẩn sĩ. Cuộc đời ngài đã gây nên không ít thắc mắc cho nhiều người. Sau chuyến thăm viếng của hai cha thuộc Hội Thừa sai Paris tại nơi ở của ngài, để trả lời thư của cha Raymond Rossignol, Bề Trên Cả của Hội, một trong hai cha đã đến thăm ngài, ngài đã viết những dòng sau: “Con vui mừng vì việc đón tiếp của con đã không quá thất bại. Con muốn làm vui lòng hai cha, và cũng muốn nói một cách rõ ràng với hai cha, con là người như thế nào và con suy nghĩ những gì...Con sẽ sống ngày lễ Giáng Sinh như thế nào ư? Bằng việc tĩnh tâm. Hơn nữa, mọi ngày là lễ Giáng Sinh: Emmanuel, Người luôn ở cùng chúng ta. Còn ước ao gì hơn nữa? Con xin kính chúc cho tất cả quí cha được ơn ấy. JD.”  [72]

 

Cha Phan-xi-cô Xa-vi-e Rubat du Mérac

Có hai nguồn thông tin chính nói về cha Rubat du Mérac trong những tài liệu được trích dẫn:

- Cuốn Lịch sử Giáo phận Đà-lạt, 1991: Bài nói về giáo xứ Di-linh (trang 131-133) và bài nói về giáo xứ Ka-la (trang134-136).

- Các Bản Tường trình MEP: các năm 1951 – 1970.

Với những thông tin trên, chúng ta biết được rằng, sau khi rời họ đạo Thủ Dầu Một ở miền Nam, cha Rubat du Mérac đến thay cha Grelier, làm cha sở họ đạo Di-linh trong không đầy một năm, từ cuối tháng 12/1950 đến cuối tháng 4/1951.

Ngày 28/4/1951, ngài rời họ đạo Di-linh, vào Ka-la phụ tá cho cha Dournes. Bản tường trình năm 1951 có đoạn viết: “Cha Dournes, có cha Rubat du Mérac làm phụ tá, bắt đầu thu hoạch kết quả của 4 năm cố gắng miệt mài và khó nhọc trong việc thành lập một trường đào tạo giáo lý viên người Thượng, ở trung tâm một cụm buôn làng trong thung lũng đông dân cư nhất của vùng. Đã có 70 thanh niên bản địa theo học tại trường...”  [73]

Hai năm sau, trong bản tường trình năm 1952, chúng ta đọc được: “Xa về phía nam, mặc dầu không có những thành công ngoạn mục, các cha Rubat du Mérac và Dournes tiếp tục hoạt động tông đồ nơi những người Thượng Srê, trong vùng Di-linh Ka-la; một ngôi trường đang khởi sắc với 70 học sinh, tất cả đều là dự tòng, xây dựng cái nôi của những cộng đồng tín hữu tương lai...”  [74]

Theo cuốn Lịch sử Giáo phận Đà-lạt, thì từ “tháng 9/1952, cha Grelier được cử đến làm cha xứ. Cha Rubat phụ, còn cha Dournes lo riêng về văn hóa... Năm 1954, sau khi cha Dournes về Pháp nghỉ bệnh (?) và cha Grelier nhận nhiệm vụ mới (?), thì cha Rubat làm cha xứ. Cha Daricau tới phụ, làm thêm nhà ở...”  [75]

Trong bản tường trình 1957, chúng ta đọc được những dòng sau đây: “Trung tâm Thượng Ka-la được giao phó cho các cha Mérac và Darricau, có số dân khoảng 1500 người, tản mác trong 17 buôn làng, thuộc những sắc dân và ngôn ngữ khác nhau; các cha cố gắng tiếp xúc với họ bằng những chuyến thăm viếng, bằng hai trường học và một phòng y tế; số tín hữu là 93 người đã được rửa tội và khoảng 20 dự tòng.”  [76]

Năm 1958, cha Darricau lên M’Lon, Đơn-dương, chuẩn bị mở một điểm truyền giáo mới ở đó. Tại Ka-la, một mình cha Rubat du Mérac tiếp tục đào tạo những giáo lý viên phụ tá, được chọn giữa những cựu học sinh xuất sắc của ngài; ngài cũng thường xuyên đi thăm khoảng một chục buôn làng ở chung quanh Ka-la, mỗi làng có khoảng 15 dự tòng, đa số là thanh niên. [77]

Năm 1959, bản tường trình MEP ghi lại: “Trung tâm Ka-la phát triển chậm; hiện có một trường học quy tụ 100 học sinh, và một phòng y tế. Cha Rubat du Mérac đã rửa tội được 20 người lớn.”  [78]

Trong bản tường trình 1960, chúng ta đọc thấy một cụm từ mới: Hạt (truyền giáo) thượng – cụm từ này đã được nói đến, nhưng chỉ mới là một đề nghị, trong bài “Evangélisation des Populations montagnardes dans le Vicariat Apostolique de Saigon jusqu’en 1956 – Truyền giáo cho các người Thượng trong Địa phận Tông tòa Sài-gòn đến năm 1956”  [79] . Tác giả bài viết đề nghị tách các cộng đồng tín hữu người Thượng và lập nên một Hạt thượng với đôi chút tự trị trong địa phận Sài-gòn, có một Hạt Trưởng, trông coi việc truyền giáo nơi các dân tộc thiểu số và phân phối các nguồn tài trợ của Tòa Thánh. Năm 1960, cụm từ này được dùng để chỉ “Năm cộng đồng tín hữu chính, ở cách nhau rất xa, do 9 cha quản lý: Di-linh 2 cha, Ka-la 2 cha, M’Lon 2 cha, Đà-lạt 3 cha... Tại Ka-la, cha Rubat du Mérac hầu như chỉ lo cho các thanh niên của 8 buôn làng trong khu vực của ngài: có 12 người được rửa tội vào dịp lễ Giáng Sinh.”  [80]

Theo chân cha Rubat du Mérac, qua hai bản tường trình năm 1961 [81] , chúng ta đến họ đạo Di-linh Thượng  [82] , nơi ngài được đặt làm cha sở thay thế cha Moriceau; còn tại Ka-la, cha Desplanque, từ Trung tâm Thượng Cam-ly, Đà-lạt, được cử về thay thế ngài. Có điều lạ là trong bản tường trình năm 1963, chúng ta lại thấy nói về cha Rubat cùng làm việc với cha Desplanque: “Hoạt động của các ngài được tập trung chủ yếu vào các trường học và vào năm nhóm buôn làng: một nhóm ở trung tâm truyền giáo Ka-la, với một trường tiểu học, một trạm y tế và một xưởng nữ công do các chị Nữ Tử Bác Ái quản lý; bốn nhóm còn lại ở vùng ngoại vi Ka-la, nơi mỗi nhóm có một giáo viên và một giảng viên giáo lý.”  [83] Có lẽ cha Rubat, tuy đã được bổ nhiệm từ năm 1961 làm cha sở họ đạo Di-linh Thượng, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động truyền giáo tại Ka-la với cha Desplanque.

Thông tin cuối cùng về cha Rubat du Mérac, chúng ta đọc thấy trong cuốn Lịch sử Giáo phận Đà-lạt: “Năm 1963, cha Desplanque về Sài-gòn. Tháng 6 năm 1965, cha Rubat về Đà-lạt.”  [84] Còn bản tường trình năm 1965 thì đưa tin: “Giáo xứ Ka-la, một trong những giáo xứ kỳ cựu nhất miền cao nguyên, đã chịu thử thách vì sự ra đi của cha Desplanque; đến lượt cha Rubat du Mérac cũng đã phải rút lui vào cuối niên khóa 1964-1965. Ka-la nay được chính thức trao cho hàng giáo sĩ Việt-nam, qua con người của cha Khoa. Nhờ mấy chữ cha Rubat để lại, chúng ta biết được rằng nỗ lực của cả năm nhằm chủ yếu vào việc dạy học cho các giáo dân và các tân tòng, tại trường và tại các buôn làng đã tòng giáo.”  [85]

Chúng ta gặp lại cha Rubat tại Trung tâm Thượng Cam-ly nhờ các bản tường trình năm 1966, 1969 và 1970. Ngài về trung tâm này để cùng hoạt động với các cha Boutary và Kermarec.

Không còn thông tin nào nữa về cha Rubat, ít nữa là với những tài liệu được trích dẫn.

Bài viết trên đây về vị thừa sai có cái tên khá đặc biệt – Rubat du Mérac – hoàn toàn dựa vào những tài liệu như đã kê ra, chính xác đến đâu thì có lẽ chỉ có những bậc lão thành người Srê của giáo xứ Ka-la mới biết được.

 

Cha Emile Grelier

Lần đầu tiên tên của cha Grelier được nêu lên là khi ngài được bổ nhiệm chính thức làm cha sở họ đạo Di-linh thay thế cha Chauvel được bổ nhiệm chính thức coi sóc điểm truyền giáo Ka-la. Đó là ngày 01/12/1941. Ngài đã ở họ đạo này trong hơn mười năm, vì ngài đã ra đi ngày 28/12/1950 [86] . Bài viết nhan đề “Truyền giáo cho người Thượng trong Địa phận Tông tòa Sài-gòn đến năm 1956”, đã được nói đến trên đây, cho biết năm 1950, cha Grelier được bổ nhiệm làm cha sở Mỹ-tho trước khi được cử lên Đà-lạt.  [87]

Nhưng rồi, vào tháng 9/1952, chúng ta lại thấy ngài xuất hiện tại Ka-la, trong tư cách là cha quản nhiệm, còn các cha Rubat và Dournes là phụ tá cho ngài. [88] Tài liệu này còn cho biết thêm rằng đến khoảng năm 1954 (?), cha Grelier đi nhận niệm vụ mới. Nhiệm vụ đó là gì?

Bản tường trình năm 1953 của MEP cho biết “cha Grelier ở miền cực Tây, trong châu thổ sông Mê-kông”  [89] ; đến năm 1954, chúng ta thấy ngài ở Mỹ-tho, trong chức vụ phó Bề trên miền, đặc trách hướng dẫn các linh mục trẻ về hoạt động tông đồ.  [90]

Trong phần nói về cha Boutary trên đây, chúng ta thấy ngài đã viết một cuốn sách về “Các Vị Thừa Sai và Người Thượng”, trong đó ngài cho biết vào năm 1955, một họ đạo dành riêng cho người Thượng được thành lập tại Di-linh, khởi điểm của Trung tâm Thượng Di-linh về sau. Năm 1956, cũng theo cha Boutary, cha Grelier rời Mỹ-tho, về Đà-lạt trong mấy tháng, rồi lại xuống Di-linh để làm việc với cha Moriceau  [91] . Cha Moriceau, mà chúng ta sẽ nói đến trong phần sau đây, là người đề xướng việc thành lập họ đạo thượng và là cha sở đầu tiên của họ đạo. Bản tường trình năm 1957 ghi rằng: “Các cha Grelier và Moriceau phụ trách 13 buôn làng trực thuộc Trung tâm Thượng Di-linh, với 332 giáo dân và 418 dự tòng.”  [92] Hoạt động chung của hai cha tại Trung tâm Di-linh còn được ghi lại trong các bản tường trình các năm 1959 và 1960. Năm 1959, có 285 giáo dân và 201 dự tòng; có 113 người lớn được rửa tội. Năm 1960, cha Grelier đã phải mở rộng trường học trong khi cha Moriceau chuẩn bị rửa tội cho 150 người lớn tại một buôn làng ở cách xa Trung Tâm 14 cây số.  [93]

Đến năm 1962, bản tường trình của năm này cho biết: “Trở lại Di-linh sau chuyến đi nghỉ, cha Grelier, tại Trung tâm Thượng, chỉ chuyên lo công việc dịch thuật sang tiếng Ko-ho, với sự cộng tác của Cha Rubat du Mérac... Ngài suýt chết trong một tai nạn xe hơi.”  [94] Sang các năm 1963, 1964 chúng ta vẫn thấy ngài điều hành công việc tại Trung tâm Thượng Di-linh.  [95]

Thông tin cuối cùng về cha Grelier được ghi lại trong bản tường trình 1965: “Không có tin tức gì về cha Grelier (họ đạo người Thượng ở Di-linh); chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì hiện sức khỏe của ngài rất yếu...”  [96]

Chúng ta chỉ biết về cha Emile Grelier như thế. Nhưng, cũng như cha Chauvel, trong thời gian làm cha sở Di-linh, ngài đã có những nỗ lực bênh vực người bản địa bị trưng tập đi hái cà-phê tại các đồn điền. Sở dĩ ngài phải lên tiếng can thiệp với nhà chức trách, vì thời gian người Thượng bị trưng tập trùng với thời gian họ phải lo công việc làm ruộng. Do đó ruộng của họ bị bỏ bê, gây nên đói kém vào các kỳ giáp hạt. Ngoài ra, ngài đã lập được một sở trà cho họ đạo. Sau này Trung tâm Thượng Di-linh được hưởng sở trà đó.  [97]

Tuy chúng ta biết rất ít về ngài, nhưng những gì biết được cũng đủ để cho chúng ta thấy rằng ngài đã hoàn thành sứ mạng truyền giáo cho người Thượng vùng Di-linh, theo gương người tiền nhiệm đáng kính của ngài.

 

Cha Christian Grison

Chính cha Grison cho biết ngài đã đến Việt-nam vào tháng 11/1957, lúc mới 28 tuổi  [98] . Chúng ta không có thông tin nào về hoạt động của ngài trong các năm kế tiếp. Phải đợi đến bản tường trình năm 1961, thì tên của ngài mới được nêu lên bên cạnh cha Laxenaire: “Các cha Grison và Laxenaire lên Trung tâm Văn hóa Thượng để tiếp tay với cha Boutary đang hoạt động một mình do việc thuyên chuyển cha Desplanque (về Ka-la) và việc cha Kermarec đi nghỉ vì lý do sức khỏe...”  [99] Có một câu trong bản tường trình này cho thấy trước khi đi Đà-lạt, cha Grison đã sống và làm việc cạnh cha Darricau đang truyền giáo cho người Thượng vùng Đơn-dương. Thật vậy, trong cuốn Các Vị Thừa Sai và Người Thượng, tác giả là cha Boutary cho biết rằng tại vùng truyền giáo Dran, trong khi cha Darricau hoạt động chủ yếu cho nhóm sắc tộc Koho, thì cha Grison chăm lo cho nhóm sắc tộc Churu, tại làng Diom, nơi cha Darricau đã xây một nhà thờ cho họ. Cha Boutary cũng cho biết, từ năm 1961, giáo điểm này được trao lại cho các cha Lazaristes  [100] . Như vậy là trùng khớp với thông tin được nêu trong bản tường trình năm 1961 trên đây, và nếu năm 1965, cha Grison được cử về coi sóc Trung tâm Thượng Di-linh, thì có nghĩa là ngài đã phục vụ tại Trung tâm Thượng Cam-ly Đà-lạt trong ít nhất là bốn năm.

Ngài điều hành Trung tâm Thượng Di-linh, cũng gọi là Trung Tâm Brah-Yang, trong 10 năm. Ngoài nỗ lực lo lắng cho nhiều trại tị nạn trong đó có một thiểu số tín hữu Công giáo, ngài dành mọi cố gắng của mình cho việc làm cho Trung tâm Thượng Di-linh thành một trung tâm hoạt động và phát triển. Đã có xưởng nữ công và nhà y tế để giúp ngài trong nhiệm vụ này. Nhưng nỗ lực lớn nhất của ngài trong năm 1968-1969 là việc xây dựng một ký túc xá tầm cỡ, có thể giúp ngài đào tạo hàng trăm thiếu niên con cái người Thượng, sau khi đưa chúng ra khỏi bầu không khí của các trại tị nan. Bằng cách nuôi chúng cả phần hồn lẫn phần xác, ngài sẽ biến chúng trở thành những con người có khả năng làm men giữa đồng bào của chúng để họ có thể thích nghi với cuộc sống trong thế giới hôm nay, chứ không chỉ để tồn tại  [101] . Và ngài đã thành công, tuy không biết tới mức độ nào, nhưng ngày nay, nhiều người, hiện đang sống, là bác sĩ, giáo viên, có cả tu sĩ và linh mục.  [102]

Cuối tháng 4/1975, vào dịp lễ Phục Sinh, ngài phải rời Trung tâm Thượng Di-linh trong tình trạng cấp cứu trầm trọng. Lý do là trong đêm Vọng Phục Sinh, trong khi toàn thị trấn Di-linh chìm trong khói lửa chiến tranh giải phóng, thì ngài bị thương nặng ở đùi do một phát đạn trọng pháo lạc vào Trung tâm... Vào đầu tháng 8/2007, ngài qua đời tại Paris vì bệnh ung thư.  [103]

 

Vị tông đồ của người Mạ

Chúng ta đã biết đến Cha Moriceau khi nói về việc thành lập Trung tâm (họ đạo) Thượng Di-linh. Cha Boutary đã viết như sau, trong cuốn Các Vị Thừa sai và Người Thượng của ngài:

“Cha Moriceau đến xứ truyền giáo năm 1949. Sau khi đã phục vụ tại một số nơi ở Nam bộ, và ở Ka-la trong một thời gian ngắn, ngài đã được bổ nhiệm coi sóc họ đạo Di-linh (thay Cha Phao-lô Võ Văn Bộ được đổi về họ đạo Xóm-chiếu ở Sài-gòn). Sau một năm làm cha sở một họ đạo qui tụ ba cộng đồng khác biệt nhau: người Việt, người Pháp và người Thượng, cha Moriceau nhận thấy sự khó khăn đối với một vị Thừa sai phải tiến hành công việc tông đồ một cách hữu hiệu trong những hoàn cảnh như thế. Do đó, vào năm 1955, ngài xin với Đức Cha Cassaigne, và được chấp thuận cho thành lập một họ đạo hoàn toàn dành cho người Thượng... Cha Moriceau lại bắt đầu từ con số không. Ngài dựng lên một cái lều khá nghèo nàn, và thường về Sài-gòn để thu thập vật liệu... của quân đội Pháp vì họ dần dần rút khỏi Đông-dương... Ngài lúc nào cũng bận rộn, lúc nào cũng vội vã. Ngài mới khánh thành ngôi nhà nguyện và đã mở một trường học cạnh nhà xứ của ngài. Thật ra đó chẳng phải là nhà xứ, đúng hơn, đó là một công trường không bao giờ thiếu việc... họ đạo Thượng được xây dựng trong những thời gian kỷ lục...”  [104]

Hoạt động của cha Moriceau không chỉ giới hạn trong vùng Di-linh, nhưng ngài đã nhiều lần đi khám phá và tiếp xúc với các buôn làng nằm dọc theo “đường mòn Kinda”, trục lộ nối Di-linh với Ban-mê-thuột. Con đường này, cha Dournes và các hướng đạo sinh của ngài đã có lần đi bộ qua trong chuyến đi dài 400 cây số dẫn ngài đến xứ sở của người Thượng Rhadé. Bộ lạc người Thượng Mạ là dân bản địa ở vùng này. Và tại một nơi gọi là B’Tong, trong thung lũng của con sông Da-Plao, cách Di-linh khoảng 50 cây số, cha Moriceau thiết lập một Trung tâm Truyền giáo Thượng vào năm 1959, sau khi ngài đi nghỉ ở Pháp về. Ngài đã giao lại cho cha Grelier và cha Rubat du Mérac Trung tâm Thượng Di-linh. Vậy là ngài lại khởi công xây dựng: nhà nguyện, nhà xứ, trường học, ngay cả một ngôi nhà cho các nữ tu Phao-lô thành Chartres đã chấp nhận lời mời của ngài để đi truyền giáo cho người Mạ. Các nữ tu đã đến B’Tong ngày 02 (21?) tháng Hai năm 1961. Tháng 3/1962, cả làng B’Tong gia nhập đạo, sau khi đã nộp cho cha Moriceau mọi thứ vật dụng linh thiêng của họ, đặc biệt là những chiếc gùi, nơi cư ngụ của các thần linh; những chiếc gùi này được treo trên bếp lửa, từ đời này sang đời khác, cho nên bị ám đầy khói. Cha Moriceau cho biết rằng dân làng B’Tong đã hứa sẽ vào đạo từ năm 1960. Nhưng phải đợi đến tháng 3/1963, là vì họ còn phải tế lễ các thần linh với nghi thức giết trâu, nghi thức này được chuẩn bị trong nhiều năm; sau nghi thức giết trâu thì đến nghi thức “uống rạ”, diễn ra trong vòng nhiều ngày, vì nghi thức này được cử hành trong từng nhà. Sau khi mọi nhà đã nộp hết các vật dụng linh thiêng của họ, cha Moriceau tiến hành việc làm phép nhà. Chiều ngày 24/3/1962, một cuộc cung nghinh tượng Đức Mẹ quanh làng, trong ánh nến lồng đèn do các nữ tu và học sinh đã chuẩn bị trước. Sau đó tượng Đức Mẹ được đặt trên một bệ đá, dưới gốc cây đa cổ thụ giữa làng. Hôm sau, 25/3/1962, là một ngày Chúa Nhật – lễ Truyền Tin được dời sang ngày thứ Hai – cha Moriceau dâng thánh lễ dưới gôc cây đa; sau lễ ngài phát ảnh chuộc tội cho các dự tòng. Tiếp đến là tiệc mừng, với thịt trâu và rượu cần.  [105]

Nhưng niềm vui và hy vọng vào một tương lai huy hoàng cho Trung Tâm B’Tong không kéo dài được bao lâu. Giữa năm 1966, do tình hình an ninh ngày càng xấu, lệnh di tản rời bỏ B’Tong được ban hành. Dân làng B’Tong được chia làm hai, một phần chạy bộ về Fyan, cách Trung tâm khoảng 55 cây số về phía đông và được các cha Dòng Chúa Cứu Thế đón tiếp; một phần, trong đó có cha Moriceau và các nữ tu, được trực thăng của Mỹ bốc lên thị trấn Gia-nghĩa, thủ phủ của tỉnh Quảng-đức mới lập. Đây là một thử thách lớn đối với cha Moriceau, vị Thừa Sai tận tụy hy sinh cho đoàn con bất hạnh của ngài. Nỗi đau của ngài càng lớn hơn khi bà Bề trên Marie-Auguste Lê Thị Loan của cộng đoàn nữ tu đi theo giúp đỡ ngài, bị chết mất tích trong một tai nạn máy bay, chiếc trực thăng chở đồ tiếp tế cho Quảng-đức. [106]

Tháng 5/1966, cha Moriceau khởi công xây dựng Trung tâm Dak-Nông. Nhưng một năm sau, nơi đây trở thành lãnh thổ của địa phận Ban-mê-thuột, được thành lập ngày 22/6/1967, lấy đi của địa phận Đà-lạt hai tỉnh Phước-long và Quảng-đức.

 

Cha Darricau và công cuộc truyền giáo cho người Thượng vùng Dran (Đơn-dương)

Theo bản đúc kết của Đại Hội MEP 1974 [107] , thì cha Phan-xi-cô Darricau đã đến Di-linh vào năm 1953, lúc ấy ngài còn là một linh mục trẻ khoảng 35 tuổi. Nơi đầu tiên ngài đến phục vụ là họ đạo Dran (Đon-dương). Bản tường trình đầu tiên được gửi về Hội Thừa sai Paris có nêu tên cha Darricau, là bản tường trình năm 1954, trong đó chúng ta đọc được mẩu tin sau: “Tại Dran (Đơn-dương), cách Đà-lạt 40 cây số, cha Darricau coi sóc một họ đạo nhỏ của người Việt; ngài ước ao tiếp xúc làm quen với ngươi Thượng trong vùng.”  [108]

Cũng trong Bản tin MEP năm 1954  [109] , có một bài viết của chính cha Darricau, tựa đề là “Semailles – Những hạt giống”, trong đó ngài lại nói rằng ngài đang coi sóc ba cộng đồng người Việt tại Dran.

Cuối cùng, trong cuốn Lịch sử Giáo phận Đà-lạt, 1991, bài nói về giáo xứ Đơn-dương, cho biết “Cha Darricau (MEP), quản xứ từ 1953 đến 1954, thời kỳ này, họ Dran được đổi tên là giáo xứ Đơn-dương.”  [110]

Như vậy, so với những thông tin đọc được trong các bản tường trình sẽ được trích dẫn dưới đây, ta có thể kết luận rằng khoảng năm 1954, cha Darricau rời Đơn-dương về Ka-la vừa để học tiếng vừa để phụ các cha Moriceau và Rubat trong việc truyền giáo.

Thật vậy, trong tập In Memoriam, có một bài viết của cha Darricau, đã được nói đến trên đây  [111] ; bài viết đó bắt đầu như sau: “Năm 1955, một hôm tôi ghé Sài-gòn, ở lại Tòa Giám mục. Tôi gõ cửa phòng Đức Cha Sanh (Cassaigne) để trình với ngài một số vấn đề về địa điểm truyền giáo của tôi là làng Ka-la ...”

Trong bản tin MEP, tháng Giêng 1955 [112] , có hai mẩu tin về cha Darricau. Mẩu thứ nhất, trích từ lá thư của cha G. Raballand gửi đi từ Sài-gòn, đề ngày 30/9/1954, nói rằng: “Cha Darricau, khởi đầu tốt đẹp tại Dran, sắp về Di-linh ở với cha Moriceau để trau giồi thêm tiếng thượng. Với cha Rubat ở Ka-la, họ sẽ làm nên một bộ ba”; còn mẩu tin thứ hai thì cho biết cha Moriceau đang giúp cha Darricau học tiếng Thượng, vì chính ngài giao tiếp rất giỏi với người bản địa. Rồi bài đúc kết hoạt động truyền giáo cho người Thượng Đà-lạt Di-linh từ đầu (1927) cho đến năm 1956, có đoạn viết: “Hiện nay, cha Moriceau phụ trách họ đạo Di-linh, và các cha Rubat du Mérac và Darricau thì coi sóc họ đạo Ka-la.”  [113]

Bản tin MEP tháng 6/1958 cho biết: “Cha Darricau đã trở lại với chúng ta, trong tình trạng hoàn hảo, và đã tìm được điểm dừng ở khoảng lưng chừng con đường phụ nối Fimnom với Dran. Ước mong ngài sẽ được hoạt động tại ngôi trường bổ túc dành cho người Thượng đã được mở trong vùng đó, mà hình như nơi đây đang chờ đón tiếp ngài. Một làng gần đó, nhờ ảnh hưởng của một thầy giáo người Việt, đã hứa sẽ trở lại.”  [114] Trong khi đó, thì bản tường trình 1958 lại ghi: “Cha Darricau đã xây dựng một giáo điểm mới tại M’Lon, một làng lớn của người Thượng, ở đó ngài đã cất lên được nhà nguyện và nhà xứ, và từ đó ngài đi đến các buôn làng khác.”  [115]

Những gì mà hai thông tin trên đây nêu lên thì được Bản tin MEP tháng 10/1958  [116] xác nhận trong bài tường thuật về lễ khánh thành Trung tâm Thượng M’Lon như sau: “Mới đây, ngày 16/7, dịp lễ Đức Mẹ Núi Cát-minh, nhiều anh em trong địa phận đã tề tựu quanh Đức Cha Cassaigne để cử hành lễ khánh thành giáo điểm mới do cha Darricau thiết lập tại M’Lon, ngôi làng nằm trên con đường ngánh nối Fimnom với Dran. Ngôi làng đó nằm giữa một thung lũng rộng, rất đông dân cư thuộc bộ lạc người Churu... tiếng nói của nọ hơi khác tiếng Koho của vùng Di-linh, nhưng có thể hiểu được...”

Năm 1959, bản tường trình cho biết tại giáo điểm M’Lon, được cha Darricau thành lập một năm về trước, có một đoàn dân đông đảo muốn được dạy dỗ: có hai nhà nguyện đã được xây dựng và các Bà Phan-sinh Thừa Sai Đức Mẹ đang xây nhà ở của họ  [117] . Các bà đã được cha Darricau mời đến giúp đỡ ngài trong công tác giáo dục, y tế và xã hội. Năm sau, 1960, cha Darricau tiếp tục xây dựng những nhà nguyện nhỏ trong 12 buôn làng thượng, nơi mà ngài sẽ đến dạy giáo lý; hầu hết người Thượng Churu trong khu vực là dự tòng. Bản tường trình năm 1961 cho biết cha Darricau phải nới rộng nhà nguyện gấp đôi do sự phát triển nhanh chóng của giáo điểm.  [118]

Sự kiện tiếp theo là cha Grison, người cộng tác với cha Darricau, được cử lên Trung tâm Thượng Cam-ly Đà-lạt, và cha Darricau thì về Pháp nghỉ bệnh: công việc tông đồ vùng Dran, nơi có những điểm truyền giáo M’Lon, Kado, Diom..., được giao cho các cha Lazaristes, thuộc Tu hội Truyền Giáo Vinh-sơn. [119]

Bản tường trình 1963  [120] cho biết, sau khi đi nghỉ bệnh ở Pháp trở về, với một sức khỏe nay đã trở lại bình thường, cha Darricau nhận lại Trung tâm Thượng M’Lon. Nhưng vì đất đai thì nhiều và dân cư cần được rao giảng Tin Mừng thì đông đúc, nên các cha Lazaristes vẫn tiếp tục hoạt động cho nhóm sắc tộc Churu-Roglai. Cha Darricau viết: “Tháng năm 1963, làng Kado được rửa tội sau ba năm dự tòng. Một ngôi nhà nguyện với vật liệu nhẹ thay thế cho ngôi nhà tranh cũ.”

Năm 1965, cha Darricau đã tường trình rằng: “Còn nhiều việc phải làm, nhưng thiếu nhân sự và phương tiện; năm nơi thờ phượng đang chờ được xây cất...”  [121]

Tình trạng thiếu nhân sự truyền giáo không thể được giải quyết dễ dàng trong tình hình quân sự chính trị của những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Cha Darricau, theo bản tường trình năm 1966  [122] , một mình phải giữ liên lạc với 33 buôn làng thượng, phải lo dạy giáo lý cho 600 dự tòng trong 13 buôn làng, tại một vùng mà đường giao thông chỉ là những con đường mòn khó đi, cầu cống thì không đủ nên phải đi vòng thật xa. Người Thượng than phiền vì Ông Cha không đến thăm họ thường xuyên hơn.

Năm 1968, cha Darricau có cha Jourdain, mới bị trục xuất khỏi Miến-điện, đến tiếp sức. Các cha bắt đầu thử nghiệm một công trình phát triển cộng đồng trong lãnh vực kỹ thuật, canh tác... Đến năm 1972, ngài lại được Đức Cha Ximong-Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Đà-lạt, cho thêm một cha phó người Việt...  [123] . Hoạt động của các cha Thừa sai chấm dứt vào năm 1975...

Trở lại với hoạt động truyền giáo của cha Darricau tại các buôn làng Churu, như K’Ban, Diom... chúng ta thấy có một điều đáng suy nghĩ. Sau khi đã được rửa tội, người Thượng muốn nhà truyền giáo làm lễ thanh tẩy cho nơi ở và ruộng đồng của họ. Nhưng nhiệt huyết tông đồ của nhà truyền giáo và sự hăng hái của người tân tòng đôi khi đưa đến những hành động mà ngày nay người ta cho là quá khích. Nếu chỉ là việc cắm cây thánh giá trong lều hay trên các thửa ruộng thì không có gì phải nói. Nhưng đây Ông Cha lại ném ra cửa hay đập vỡ những hũ đất (người Chu-ru gọi là gri) mà, do mê tín, họ coi đó là nơi thần minh cư ngụ; hoặc hành động đốt đình chùa để hỏa thiêu hay xua đuổi thần minh ra khỏi buôn làng. [124]

Về sau, trong bản đúc kết Đại hội MEP 1974, có nhận xét rằng: “Trong quá khứ, nhiều khi chúng ta đã là những kẻ “đập vỡ ngẫu tượng” mà không biết có cái gì ở đằng sau những thứ đó. Chúng ta đã áp đặt lên người bản địa một thứ “Luật La-mã” mà quên rằng họ cũng có “luật” của họ. Có bao giờ chúng ta xét lại nền Thần học của chúng ta trong tương quan với môi trường, với lịch sử và các di sản tín ngưỡng của người bản địa không?”  [125] Thiết tưởng đây cũng là một sự nhắc nhở cho việc truyền giáo của mọi thời, vì “thời đại truyền giáo chưa khép lại”.  [126]

 

Những người sai đi và những người chuẩn bị chỗ để đón tiếp

Những gì được ghi lại trên đây là để tưởng nhớ và tri ân các vị Thừa sai thuộc Hội truyền Giáo Paris đã góp phần, cách này hay cách khác, chủ yếu là bằng việc truyền giáo cho người Thượng nơi cao nguyên Đà-lạt Di-linh, vào việc hình thành giáo phận Đà-lạt, như đã nói trong phần mở đầu. Nhưng sự tưởng nhớ và tri ân sẽ không đầy đủ nếu không nói đến những người đã sai các ngài đi và những người đã chuẩn bị cho các ngài đến.

1. Về những người đã sai đi thì không ai khác ngoài các Vị Đại diện Tông tòa địa phận Tây Đàng Trong, sau này là địa phận Sài-gòn

Trước hết là Đức Cha Lucien Mossard (Đại diện Tông tòa 1899-1920). Mục đích của ngài khi lên Đà-lạt vào năm 1917 là để tìm một địa điểm thích hợp cho việc xây dựng một nhà nghỉ dưỡng dành cho các nhà truyền giáo phương Tây ít thích nghi được với khí hậu nhiệt đới vùng Nam Bộ. Nhưng khi đã có ngôi nhà nghỉ dưỡng, thì ngài lại thấy rằng không thể không có một nhà nguyện để phục vụ những tín đồ là cư dân hoặc là khách vãng lai của một thành phố nghỉ mát đang hình thành. Thế là ngài đã vận động tài chính từ những người này để nối dài cánh phải (phía tây) của nhà nghỉ dưỡng thành một nhà nguyện ; và nhà nghỉ dưỡng lúc đầu nay trở thành Dưỡng viện Giáo đồ Đà-lạt. Chính Đức Cha Lucien Mossard là người đầu tiên đã cử hành phụng vụ tại nơi đây. [127]

Nhưng không phải “Đức Thầy Mão(cụm từ thường được giáo dân dùng để gọi Đức Cha Mossard) mà là đấng kế vị ngài, Đức Cha Victor Quinton (Đại diện Tông tòa 1920-1924) đã nhìn thấy trước sự phát triển của nhúm tín đồ nhỏ bé của giáo điểm, nên đã ký quyết định thành lập Họ đạo Đà-lạt vào cuối tháng 4/1920, và đã đặt một cha sở kiêm quản nhiệm dưỡng viện giáo đồ: cha Frédéric Sidot. Ngày ngài đến nhậm chức, 10/5/1920, được coi là sinh nhật của họ đạo Đà-lạt. Sau cha này, Đức Cha Quinton, tên Việt là Đức Thầy Tôn, gửi lên Đà-lạt cha Céleste Nicolas, người đã hiện thực hóa câu tục ngữ “Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên” với di sản vĩ đại mà ngài đã để lại cho họ đạo Đà-lạt lúc khởi đầu và cho giáo phận Đà-lạt ngày hôm nay, như đã nói ở trên.

Kế nhiệm Đức Thầy Tôn vào năm 1924 [128] , Đức Cha Isidore Dumortier (Đại diện Tông tòa 1924-1941) – người đã lên nghỉ dưỡng tại Dưỡng viện Giáo đồ Đà-lạt vào năm 1919 khi còn là linh mục, và đã cử hành nghi thức hôn phối cho một đôi vợ chồng vào ngày 29 tháng 12  [129] – năm 1927, đã sai cha Gioan Cassaigne đến Di-linh để thực hiện thao thức truyền giáo cho các dân tộc miền rừng núi của ngài. Cho đến ngày ngài qua đời, 16/02/1940, “Đức Thầy I-xi-đô-rô (Đượm)” đã không ngừng nỗ lực thực hiện những ước vọng của ngài là: mở mang việc truyền giáo cho người Thượng và lo cho nhiều lương dân trở lại cùng Chúa.  [130]

2. Dưỡng viện Giáo đồ Đà-lạt và nhà xứ Di-linh, những cơ sở vật chất cần thiết, điểm xuất phát đầu tiên của của công việc truyền giáo tại cao nguyên Đà-lạt Di-linh, đã được chuẩn bị bởi những con người cũng khao khát mang Tin Mừng rao giảng cho lương dân. Họ là những người chuẩn bị cho các vị Thừa sai đến.

Như nhiều lần đã nói đến, vào năm 1917, cha Nicolas Couvreur (1858-1928), Quản lý Hội Thừa Sai Paris có trụ sở đặt tại Singapore, đã tháp tùng Đức Cha Mossard lên Đà-lạt tìm đất xây dựng nhà nghỉ dưỡng cho các Thừa sai phương Tây đang hoạt động trong toàn vùng Đông-nam Á. Cuối năm đó và đầu năm sau, nhà nghỉ dưỡng đã được xây dựng xong. Cha Céleste Nicolas, khi viết về việc ngài đã nhận Thánh Giám mục Nicolas làm Bổn mạng của họ đạo Đà-lạt trong Bản tin tháng 12/1932, đã nói về cha Nicolas Couvreur như sau: “(Thánh Nicolas) vào năm 1918, đã soi sáng cho một trong các con cái bảo trợ của ngài có tên là Nicolas Couvreur, để noi gương ngài và nắm lấy cơ hội đến với mình mà “bắn một phát trúng hai con chim”: vừa giúp đỡ các đồng nghiệp thừa sai duy trì được sức khỏe tốt, nếu họ muốn, vừa thành lập một họ đạo mới nơi miền núi.”  [131] Ngôi nhà nghỉ dưỡng đã đuợc chuẩn bị để tiếp đón các cha sở của họ đạo và các nhà truyền giáo.

Về nhà xứ Di-linh, thì Đức Cha Dumortier đã viết như sau: “Sau lễ phong chức trong tháng 9 (1926)... tôi đã đi Di-linh với Cha Decoopman (+ tháng 2.1940), người đã đến đây và đã chú ý đến một căn nhà treo bảng bán, nơi có thể làm chỗ cư ngụ cho một nhà truyền giáo.”  [132] Còn Cha Quang, trong cuốn Lạc quan trên miền Thượng của ngài, thì cho biết chỉ một năm sau khi lên cai quản địa phận, Đức Cha Dumortier đã sai cha Decoopman lên Di-linh xem xét địa thế. Cha Quang viết: “Cha quản lý hăng hái đi lo công tác này, vì lòng ngài vẫn khao khát được thôi việc ở Tòa Giám Mục để đi coi xứ, hầu có dịp thực hiện ý nguyện rao giảng Phúc âm tận những vùng xa xôi hẻo lánh... có hậu ý rằng khi lo xong nhà cửa ở đó, ngài sẽ xin từ chức quản lý địa phận, và tình nguyện lên Di-linh lo cho đồng bào Thượng, vì dù sao ngài cũng có cha Nicolas bạn cố tri thân thiết đang làm cha sở Đà-lạt, từ 1921, và hai anh em sẽ giúp đỡ nhau...”  [133] Và người ta cũng biết rằng cha Decoopman đã giúp đỡ cha Céleste Nicolas như thế nào trong việc xây dựng ngôi nhà thờ Đà-lạt sau này trở thành Nhà thờ Chánh Tòa.

 

Lời kết

Lần dở những trang tài liệu – gồm những bản tin, những bản tường trình, những bài viết, những cuốn sách – nói về các Vị Thừa Sai và hoạt động của các ngài cho đồng bào dân tộc thiểu số trên quê hương Lâm-đồng của chúng ta, thật khó mà không xúc động khi nghĩ đến bao nhiêu gian lao vất vả mà các ngài đã trải qua để hoàn thành sứ mạng truyền giáo của mình. Sứ mạng đó không chỉ nhằm rao gỉang Phúc âm cho người Thượng chưa biết Chúa, mà còn bao gồm cả việc nuôi sống phần xác của họ, băng bó các vết thương trên người họ, chữa bệnh cho họ, khai sáng trí lòng họ, thăng tiến đời sống của họ về vật chất cũng như tinh thần... và, còn hơn thế nữa, sống chết với họ như Đức Cha Cassaigne đã làm.

Nhưng sứ mạng đó, các ngài đã lãnh nhận một cách tự nguyện, chứ không bị áp đặt. Cái gì đã thúc đẩy các ngài làm được những điều kỳ diệu như thế? Chắc chắn không phải vì lợi lộc vật chất, không phải vì đam mê phiêu lưu mạo hiểm, cũng không phải vì lý tưởng anh hùng hay vì vinh quang trần thế. Hậu thế, trong đó có chúng ta, ca ngợi, tưởng nhớ và biết ơn các ngài, nhưng chính tình yêu Thiên Chúa đã thôi thúc các ngài, đến nỗi các ngài dám hy sinh tất cả, gia đình, quê hương, sự yên ổn về đời sống, để dấn thân đi đến một nơi mà mọi cái đều xa lạ, khí hậu, con người, ngôn ngữ, phong tục tập quán.

Và khi đến nơi rồi, khi đã tiếp cận với những con người mà các ngài được sai đến để phục vụ, thì hầu như chỉ thấy nghèo nàn, lạc hậu, dốt nát, đói khổ, rách rưới, hôi hám, bẩn thỉu, thậm chí đầy thương tích, lở loét, thối tha... Tình yêu Thiên Chúa, hóa thành tình thương và bác ái, đã làm cho các ngài thấy nơi những con người khốn khổ đó hình ảnh của Đức Giê-su đau thương và tử nạn để mà yêu mến và phục vụ.

Khi cơn xúc động đã dịu xuống, thì sự ngưỡng mộ là điều không thể không đến với lòng trí chúng ta.. Làm sao mà những con người còn rất trẻ đó  [134] đã có thể chấp nhận bao hy sinh và thử thách, bao thiếu thốn và cô độc, vì nhiều khi các cha phải làm việc một mình (như cha Cassaigne lúc đầu, cha Darricau, cha Grison...)?

Cha Đa-minh Nguyễn Huy Trọng, Quản xứ Ka-la, trong bài “Lược sử Trung Tâm Truyền Giáo Thượng Ka-la ngày xưa cũng là Giáo xứ Ka-la, Bảo-thuận, ngày nay”, đã bày tỏ sự ngưỡng mộ của ngài như sau: “Như vậy là chỉ trong vòng vỏn vẹn 15 năm (1927-1941), một con người “rất xa lạ”, mà chắc chắn đã khai phá, khởi sự, và đặt nền móng rất vững vàng, rộng khắp... cho một công việc (truyền giáo) mà chắc chắn cho đến đến hôm nay không ai có thể “cắn gót”! Nếu lại đem “cái cảnh vực” của cái thời 15 năm đó so sánh với các “phương tiện” của ngày hôm nay, thì còn hội ra được nhiều điều kinh ngạc và lạ lùng hơn nữa.”  [135] Cha Đa-minh nói về cha Cassaigne.

Nhưng cũng có thể nói như vậy về các cha khác, như cha Lefèvre ở Đà-lạt, cha Darricau ở M’Lon, cha Moriceau ở B’Tong, cha Grison ở Trung Tâm Brah-Yang...

Xin được dùng lại những từ của cha Đa-minh để kết thúc: Các cha thuộc Hội Thừa Sai Paris đã khai phá, khởi sự, và đặt nền móng rất vững vàng cho Giáo phận Đà-lạt, một giáo phận mang đậm bản chất truyền giáo.

 

Xin dâng nén hương lòng

để tưởng nhớ đến các ngài, những người đã anh dũng cống hiến trọn vẹn tài sức mình cho sự hình thành của giáo phận chúng ta,

để tỏ lòng biết ơn đối với các ngài vì di sản to lớn các ngài đã để lại cho giáo phận: về người theo Chúa, về cơ sở vật chất, về sản phẩm văn hóa...

và để cầu xin cho các ngài được Chúa trả công xứng đáng nơi cõi vĩnh hằng.

 

Đà-lạt, Chúa Nhật 21/10/2007

Khánh Nhật Truyền Giáo

 

 

Tài liệu được trích dẫn

 

1. Lịch sử Giáo phận Đà-lạt – Tòa Giám mục Đà-lạt, 1991.

2. Chroniques MEP et Rapports sur les Travaux d’Apostolat auprès des Montagnards dans la région de Djiring-Dalat, de 1920-1975: Biên niên sử MEP và Tường trình về các hoạt động Truyền giáo nơi người Thượng vùng Di-linh Đà-lạt, từ năm 1920 đến năm 1975 (viết tắt nơi ghi chú là MEP).

3. Documentations – Les Montagnards du Diocèse de Dalat: Văn kiện – Người Thượng trong Giáo phận Đà-lạt (viết tắt nơi ghi chú là VK).

4. IN MEMORIAM – Bulletin MEP.

5. Bulletin paroissial de Dalat, Bộ 1 (1930-1932) và Bộ 5 (1942-1943).

6. Kỷ yếu Đệ Nhất Chu Niên Giáo phận Đà-lạt – 1960-1961

7. Lm Giu-se Võ Đức Minh – Truyền giáo ở Đà-lạt, 2004

8. Các Cha Quản xứ Giáo xứ Di-linh – Kỷ yếu mừng 80 năm hình thành và phát triển giáo xứ (1927-2007), Giáo xứ Di-linh, 2007.

9. Lm Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, 1973.

10. Trần Văn Mầu – Lược sử Giáo xứ Chánh tòa Đà-lạt, 2003.



[1] Đức Cha Phê-rô Ma-ri-a Lambert de La Motte sinh ngày 16.01.1624 tại Pháp; thụ phong linh mục ngày 27.5.1655; tấn phong Giám mục hiệu tòa Bérythe (Beyrouth) ngày 27.5.1660, được đặt làm Đại diện Tông tòa địa phận Đàng Trong (về sau kiêm Giám quản Tông tòa địa phận Đàng Ngoài) được thành lập ngày 09.9.1659, thời Đức Giáo hoàng Alexandro VII. Ngài đã triệu tập chủ tọa Công đồng Dinh Hiến, 14.02.1670, để thảo luận về cách tổ chức giáo hội tại Việt-nam; thành lập Dòng Mến Thánh Giá Việt-nam, ngày 19.02.1970. Do các cuộc bắt đạo gắt gao dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), nhiều lần ngài phải qua lánh nạn bên Thái-lan. Ngài đã qua đời tại đây vào ngày 15.6.1679, tuổi 55. Hội đồng Giám mục Việt-nam, trong kỳ Đại hội IX, từ 27.9 đến 01.10.2004, đã thảo luận việc xin mở hồ sơ phong thánh cho ngài

[2] Lm. Marius Boutary – Les Missionnaires et les Montagnards (Các vị Thừa sai Người Thượng), Chroniques MEP et Rapports sur les Travaux d’apostolat auprès des Montagnards dans la région de Djiring - Dalat de 1920-1975 (Biên niên sử những Phúc trình về các hoạt động tông đồ nơi những người Thượng vùng Đà-lạt Di-linh). MEP, tài liệu 72.

[3] Đức Thánh Giám mục Tê-pha-nô Cuénot Thể (1802-1861) vị Đại diện Tông tòa cuối cùng của địa phận Đàng Trong, người kế vị thứ chín của Đức Cha Lambert de La Motte; ngài cai quản địa phận này từ năm 1840. Đến năm 1844, Tòa Thánh chia địa phận Đàng Trong thành hai địa phận Đông Đàng Trong sau này được gọi Quy-nhơn, Tây Đàng Trong, sau này được gọi Sài-gòn. Đức Cha Tê-pha-nô Cuenot Thể tiếp tục cai quản địa phận Đông Đàng Trong cho đến khi chết trong tù, ngày 14.11.1861. Ngài được Đức Giáo hoàng Pi-ô X tôn phong Á Thánh ngày 02.5.1909 được Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolo II tôn phong Hiển Thánh ngày 19.6.1988.

 

[4] Không kể bước chân chạy loạn của cha Gonzague Villaume (cố Đề) khi ngài bị những người quá khích trong nhóm Văn Thân rượt bắt vào tháng 8 năm 1885; ngài đã cùng một thầy phó tế hai chú giúp lễ, từ Phan-rang, trốn lên núi phía Đơn-dương, rồi băng rừng vượt núi về hướng Di-linh, tới tận Sài-gòn, rảo qua trên 500 cây số trong vòng 24 ngày. Dầu sao, đây cũng vết chân của những người Ki-tô hữu đầu tiên tại vùng này. Cũng thể ghi thêm bước chân của cha Léon Robert (1865-1956), lúc bấy giờ làm quản Hội Thừa Sai Paris, trụ sở tại Singapore. Cha Robert mặt trong đoàn thám hiểm của bác Yersin khi ông khám phá ra cao nguyên LangBiang, ngày 21/6/1893. Đức Cha Cassaigne đã nói đến sự kiện này trong “Bài thuyết trình về người Thượng vùng Di-linh”, được ngài đọc tại Sài-gòn ngày 03/01/1943, như sau: “Năm 1890, bác Yersin thám hiểm xứ Mọi, nơi ông sẽ quay trở lại vài năm sau đó, cha Robert, hiện nay (1943) Bề trên Cả của Hội MEP Paris tháp tùng; hai nhà thám hiểm gan dạ này đi tìm một vùng cao nguyên để xây dựng một trạm nghỉ dưỡng; chính nhờ họ mà ta có Đà-lạt ngày nay.” (VK, số 4)

 

[5] Xem ghi chú số 2 (trang 9)

 

[6] MEP, tài liệu số 5a.

 

[7] MEP, tài liệu số 5a.

 

[8] Lm.Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang 72.

[9] Cha Nicolas – Bulletin paroissial de Dalat (Bản tin họ đạo Đà-lạt), tháng 5/1932.

 

[10] Ông Trần Văn Mầu, trong tập sách nhỏ có tựa đề Lược Sử Giáo Xứ Chánh Tòa Đà-lạt,trang 18 22, đã cung cấp những chi tiết sau đây, rút ra từ Bản Tin Họ đạo Đà-lạt của cha sở Nicolas: Chi phí xây cất ngôi nhà thờ Đà-lạt đã được hãng thầu SIDEC (Societe Indochinoise d’Etudes et de Constructions, tạm dịch Hội Nghiên cứu Xây dựng Đông-dương) thông báo lần đầu, vào tháng 9.1930, 200.000 đồng; sau đó, vào tháng 5.1931, hạ xuống còn 182.000 đồng. Theo giá cả trong thập niên 1930, thì chi phí Chúng ta đọc được trong Bản Tin họ đạo Đà-lạt, số tháng 3/1942, những dòng sau đây của ngài trong bài tường thuật tiếp theo (vì đã có một bài tường thuật khá chi tiết đăng trong số tháng 2) về lễ Khánh thành ngôi nhà thờ mới: “Để kết thúc mục này, tôi nhắc lại rằng nhà thờ này tốn 200.000 đồng và cuộc lạc quyên mở ra từ ngày 01/02/1929, với các giỏ tiền ngày Chúa Nhật và lễ trọng, cũng từ ngày đó, đạt con số tổng cộng là 100.000 đồng, họ đạo còn khoản nợ 100.000 đồng phải trả. Tôi hy vọng rằng, nay được hưởng ngôi thánh đường này, hoặc biết rằng lòng quảng đại của mình đã không vô ích, thì các ân nhân và nhà hảo tâm gần xa sẽ không để cạn lòng quảng đại đó, nhưng tiếp tục giúp đỡ chúng tôi trả xong món nợ qua cuộc lạc quyên vẫn còn để mở, và bằng những khoản tiền giỏ các ngày Chúa Nhật và lễ trọng, vì chúng tôi chỉ có thể trông chờ vào những nguồn trợ giúp đó mà thôi...”. Nhưng trong Bản Tin họ đạo Đà-lạt số cuối cùng, tháng 12/1943, nơi cuối trang kê các khoản tiền quyên góp, có ghi câu sau đây: “Nợ của họ đạo – đến ngày 01/11/1943 – là 85.897 đồng 16 xu”. Như vậy, ta thấy trong gần hai năm, từ tháng 3/1942 đến tháng 11/1943, cha sở Nicolas chỉ thu góp được không đầy 15.000 đồng! Thật sự cho đến nay, có lẽ ít người biết được khoản nợ của họ đạo đã được thanh toán từ lúc nào và ai là người đã góp phần làm việc đó. Có dư luận rằng đó là Bà Nam Phương Hoàng Hậu, một giáo dân ngoan đạo của cha sở Nicolas. Cũng có người cho rằng đó là Đức Cha Gioan Cassaigne, với sự tiếp tay của cha Fernand Parrel, người thay thế cha Decoopman trong chức vụ quản lý giáo phận đó tương đương khoảng trên dưới 5 tỉ bạc Việt-nam vào năm 2003. Tuy nhiên so sánh với các con số phí tổn xây cất trước đó hoặc đồng thời như Langbian Palace, nay Dalat Sofitel (1942) tốn 1.000.000 đồng, Petit Lycee, nay Trường Cao đẳng nghề (1927) tốn 300.000 đồng, Hotel Du Parc, nay là Dalat Novotel (1932), tốn 400.000 đồng – thì số tiền 182.000 đồng không phải là cao.

[11] Lm. Giu-se Võ Đức Minh – Truyền giáo ở Đà-lạt, trang18-19.

 

[12] In Memoriam, tài liệu số 4.

 

[13] Xem phần nói về cha Octave Lefèvre (trang 42).

[14] Nhà thờ Đà-lạt có một tháp chuông chính và hai tháp phụ; dưới chân tháp phụ bên phải, cha Nicolas đã cho thiết kế một căn phòng nhỏ ngài nghĩ sẽ phần mộ của ngài sau này. Ngày nay, tầng hầm của nhà thờ, gồm cả căn phòng nhỏ trên đây, đã trở thành Nhà Hài Cốt (Từ Đường Phục Sinh) của giáo xứ, được làm phép đưa vào sử dụng từ ngày thứ Bảy, 16.02.2002.

[15] Lm. Giu-se Võ Đức Minh – Truyền giáo ở Đà-lạt, trang 18.

 

[16] Kỷ yếu Đệ nhất chu niên Giáo phận Đà-lạt, trang 19.

 

[17] Các địa phận tại Việt-nam, từ năm 1924, được gọi theo tên của thành phố thủ phủ của vùng: Hà-nội thay cho Tây Đàng Ngoài, Huế thay cho Bắc Đàng Trong, Quy-nhơn thay cho Đông Đàng Trong, v.v...

 

[18] MEP, tài liệu 5a.

 

[19] Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang78.

[20] MEP, tài liệu 5a.tự điển.

[21] Tập Văn kiện của Hội Truyền Giáo Paris: “Người Thượng trong địa phận Đà-lạt” (sau đây sẽ gọi tắt là VK), số 1.

 

[22]  VK, số 1.

 

[23] Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang 103-105.

[24] VK, số 1.

 

[25] Cuốn sách giáo này, sau khi được ngài chỉnh sửa nhiều lần, đã được ngài cho in năm 1938 với tựa đề “SARA – DIAT BAP IANG”.

 

[26]  Đức Cha JB Cassaigne – Conférence sur les Montagnards de la région de Djiring (Bài thuyết trình về những người Thượng vùng Di-linh), đọc trước Quan Toàn Quyền Đông-dương, J.Decoux, Sài-gòn ngày 03.01.1943. VK, số 4.

 

[27] Trong “Education” số 16, các tháng 6, 7, 8 năm 1949, bài “Les Montagnards de la Mission de Saigon – Những người Thượng trong địa phận Sài-gòn” – VK, số 3.

[28] (12) Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang 84-87 121-122.

[29] Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang 91.

[30] (14) Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang 130.

 

[31] Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang 131.

 

[32]  MEP, tài liệu 5b.

[33] Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang 133.

 

[34] Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang171.

[35] Kỷ yếu Các cha Quản xứ Giáo xứ Di-linh, trang 25-26.

[36]  Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang11.

[37]  VK, số 2.

[38]  MEP, tài liệu 11b.

 

[39] Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, trang 118 - 119.

 

[40]   nơi (như trong tập Kỷ yếu Các cha Quản xứ Giáo xứ Di-linh) ghi các chị Nữ tử Bác ái đến giúp cha Cassaigne tại trại cùi Di-linh từ đầu năm 1938, nhưng chính cha Cassaigne thì ghi là tháng 9.1937.

 

[41]  MEP, tài liệu 11b.

 

[42]  MEP, tài liệu 11b.

[43]  MEP, tài liệu 28a.

 

[44]  Các cha quản xứ Di-linh: cha Cassaigne (1927-1941), cha Jean Chauvel (5 tháng), cha Emile Grelier (1941-1950), cha Phan-xi-cô Rubat du Mérac (1950-1951), cha Phao-lô Võ Văn Bộ (1951-1954), cha Jean Moriceau (1954-1955), cha Phan-xi-cô Nguyễn Văn Tam (1955-1957), cha Lu-y Phạm Văn Nẫm (5 tháng), cha Phao-lô Nguyễn Văn Nghị (1957-1958), cha Giu-se Phùng Cảnh (1958-1962), cha Giu-se Phùng Thanh Quang (1962-2003), cha Đa-minh Trần Thả (phó xứ từ 1993, quản xứ từ 2005 đến nay).

[45]  Các cha phụ trách giáo điểm Ka-la: cha Cassaigne (1939-1941), cha Jean Chauvel (1941-1947), cha Jacques Dournes (1947-1952), cha Émile Grelier (1952-1954), cha Rubat du Mérac (1954-1965) cha Daricau phụ từ 1954 đến 1958, cha Phê-rô Trần Văn Khoa (1965-1969), cha Đa-minh Nguyễn Huy Trọng (từ năm 1969 đến nay).

 

[46]  MEP, tài liệu 39.

[47]  Cha Daricau – “Đức Giám mục Jean Cassaigne và công cuộc truyền giáo cho bệnh nhân phong”, bản dịch của Huỳnh Hay, đăng trên tuần san Công Giáo & Dân tộc, số 980, tháng 10.1994 – Đăng lại trong tập In Memoriam, số 7b.

 

[48]  Cha Christian Grison – “Đức Cha Gioan Cassaigne giữa những người phong cùi” (1955-1973) – In Memoriam, số 7.

 

[49]  Lm. Marius Boutary, Le “Oui” du Frère Emilien. MEP, tài liệu 71.

 

[50]  Lm. Parrel, Débuts d’un chrétienté – Dalat et ses Montagnards. MEP, tài liệu 27.

[51]  In Memoriam, số 5a (Le R.P. Octave Lefèvre, Sa mort Son Oeuvre Apostolique), 5b (Le R.P. Octave Lefèvre, Aumonier et Apôtre à Notre-Dame de Langbiang, Đà-lạt) 5c (Le Père Octave Lefèvre Son Oeuvre Apostolique).

 

[52]  Xin xem danh mục các Tài liệu được trích dẫn.

 

[53]  Lm. Boutary, Les Missionnaires et les Montagnards (Các Vị Thừa sai Người Thượng). MEP, tài liệu 72.

[54]  Xin xem lại phần trên.

 

[55]  Như đã nói ở phần trên.

[56]  Lịch sử Giáo phận Đà-lạt, 1991, trang 38-39.

[57]  Lm. Boutary, Các Vị Thừa Sai và Người Thượng, phần Lịch sử, trang 28-33. MEP, tài liệu 72.

 

[58]  MEP, tài liệu 40.

 

[59]  Xin xem danh mục các Tài liệu được trích dẫn.

 

[60]  VK, số 12.

 

[61]  VK, số 14.

 

[62]  VK, số 15.

 

[63]  Xem phần nói về Cha Lefèvre (trang 42).

 

[64]  MEP, tài liệu 72.

 

[65]  MEP, tài liệu 8.

[66]  MEP, tài liệu 50, 51 và 62.

 

[67]  Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang – Lạc quan trên miền Thượng, 1973, trang 160 và 170.

 

[68]  Lịch sử Giáo phận Đà-lạt,1991, trang 135.

 

[69]  MEP, tài liệu 14. Nhưng theo Cha Dournes (MEP, tài liệu 20 In Memoriam, số 9), thì Cha Chauvel chết ngày 01.02.1945.

[70]  MEP. tài liệu 18.

[71]  In Memoriam. số 9.

 

[72]  In Memoriam, số 9.

[73]  MEP, tài liệu 26a.

 

[74]  MEP. tài liệu 32.

 

[75]  Lịch sử giáo phận Đà-lạt, 1991, trang 135.

 

[76]  MEP, tài liệu 42a.

[77]  MEP. tài liệu 43.

 

[78]  MEP. tài liệu 46a.

 

[79]  MEP. tài liệu 41.

 

[80]  MEP. tài liệu 48.

 

[81]  MEP. tài liệu 49, 51.

 

[82]  Sẽ nói đến xứ này trong phần viết về Cha Moriceau.

[83]  MEP. tài liệu 54.

 

[84]  Lịch sử giáo phận Đà-lạt, 1991, trang 135.

 

[85]  MEP. tài liệu 57.

 

[86]  Lịch sử giáo phận Đà-lạt, 1991, trang 131.

 

[87]  MEP, tài liệu 41.

 

[88]  Lịch sử giáo phận Đà-lạt, 1991, trang 135.

 

[89]  MEP, tài liệu 32.

[90]  MEP, tài liệu 35.

 

[91]  MEP, tài liệu 72.

 

[92]  MEP, tài liệu 42a.

 

[93]  MEP, tài liệu 48.

 

[94]  MEP, tài liệu 53.

[95]  MEP, tài liệu 54, 56a.

 

[96]  MEP, tài liệu 57.

 

[97]  MEP, tài liệu 13 và Lịch sử giáo phận Đà-lạt, trang 132.

 

[98]  In Memoriam, số 7.

[99]  MEP, tài liệu 49, 51.

 

[100]  MEP, tài liệu 72.

[101]  MEP, tài liệu 66.

 

[102]  Theo trang web Simon-Hòa (www.simonhoadalat.com)

 

[103] Theo trang web Simon-Hòa (www.simonhoadalat.com)

 

[104]  MEP, tài liệu 72

[105]  MEP, tài liệu 56.

 

[106]  MEP, tài liệu 59.

 

[107]  MEP, tài liệu 68.

 

[108]  MEP, tài liệu 35

 

[109]  MEP, tài liệu 36

 

[110]  Lịch sử giáo phận Đà-lạt, 1991, trang 113.

 

[111]  Cha Daricau, “Đức Giám mục Jean Cassaigne công cuộc truyền giáo cho bệnh nhân phong”, bản dịch của Huỳnh Hay, đăng trên tuần san Công Giáo & Dân tộc, số 980, tháng 10.1994 – đăng lại trong tập In Memoriam, số 7b.

 

[112]  MEP, tài liệu 38.

[113]  MEP, tài liệu 41.

 

[114]  MEP, tài liệu 44.

 

[115]  MEP, tài liệu 43.

 

[116]  MEP, tài liệu 46.

[117]  MEP, tài liệu 46a.

 

[118]  MEP, tài liệu 49.

 

[119]  MEP, tài liệu 53.

 

[120]  MEP, tài liệu 55.

 

[121]  MEP, tài liệu 57.

 

[122]  MEP, tài liệu 59.

 

[123]  MEP, tài liệu 68.

 

[124]  MEP, tài liệu 36, bài Semailles của cha Darricau.

 

[125]  MEP, tài liệu 68.

 

[126]  MEP, tài liệu 68.

 

[127]  Lịch sử giáo phận Đà-lạt, 1991, trang 22.

 

[128]  Chính Đức Cha Dumortier thì nói: “Vào tháng 12 năm 1925, khi tôi được bổ nhiệm làm Đại diện Tông tòa của Địa phận này (tức Sài gòn)...” – MEP, tài liệu 12.

[129]  Lịch sử giáo phận Đà-lạt, 1991, trang 22.

 

[130]  Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang, Lạc quan trên miền Thượng, 1973, trang 161.

[131]  MEP, tài liệu 23 – và Bulletin paroissial de Dalat, tháng 12/1932.

 

[132]  MEP, tài liệu 5a.

 

[133]  Lm. Giu-se Phùng Thanh Quang, Lạc quan trên miền Thượng, 1973, trang 78.

 

[134]  Tuổi trung bình của các Cha thừa sai khi đến Việt-nam trên dưới 30. dụ cha Céleste Nicolas, sinh năm 1880, đến Việt-nam năm 1904, chỉ mới 24 tuổi; Đức Cha Cassaigne sinh năm 1895, đến Việt-nam năm 1926, chỉ mới 31 tuổi; cha Dournes, sinh năm 1922, đến Việt-nam năm 1946, chỉ mới 24 tuổi... Năm 1965, cha Boutary mới 42 tuổi, cha Moriceau 40 tuổi, cha Grelier cha Desplanque 54 tuổi, cha Rubat du Mérac 51 tuổi, cha Darricau 46 tuổi, cha Grison trẻ nhất, mới 36 tuổi, cha Kermarec 41 tuổi... (MEP, tài liệu 57).

 

[135]  Theo trang web Simon-Hòa (www.simonhoadalat.com).