Thư tư tuần 4 thường niên
Chúa Giêsu bị khước
từ
(Mc
6,1-3-6)
1. Sau khi đi rao giảng Tin Mừng một thời gian ngắn, hôm
nay Chúa Giêsu trở về Nagiarét quê hương của Người. Người vào giảng dạy trong hội
đường. Ai nấy đều cảm phục vì bao phép lạ Người làm, vì giáo lý của Người rất
cao siêu và giảng dạy rất khôn ngoan. Nhưng
vì họ cứ nghĩ Người là một anh thợ mộc tầm thường trong làng, mà không nhìn nhận
Người là Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa, nên không chịu tin Lời Người. Họ có
thành kiến lớn lao đối với Người. Thế nên Người không làm phép lạ nào để cứu
giúp họ, mà chỉ chữa vài người bệnh, vì Người không muốn tỏ quyền năng của Người
cho những kẻ đóng kín tâm hồn.
2. Theo ông Đào Duy
Anh, “Thành kiến” là ý kiến cố chấp
không thể lay động được. Khi có ý kiến tốt hay xấu về một người hay một vật gì
thì khó lòng có thể thay đổi được. Thành kiến thay đổi sự thật của sự vật,
không còn như nó có nữa. Thành kiến đã
bóp méo sự thật, giống như người đeo kính mầu xanh thì vật gì cũng xanh, đeo
kính mầu đỏ thì vật gì cũng đỏ.
Người ta có thể nhìn sự vật với ba thái độ, đó là yêu, ghét hay dửng dưng. Nhưng thường thì chúng ta ít khi có thái độ dửng dưng,
trung lập, mà thường là nghiêng về một phía yêu hay ghét. Chính thái độ yêu hay
ghét này làm cho ta nhìn sự vật khác nhau :”Yêu
nên tốt, ghét nên xấu”. Khi yêu thì coi mọi sự đều đẹp đều tốt, khi ghét
thì mọi cái là xấu :”Yêu ai yêu cả đường
đi, ghét ai ghét ca tông chi họ hàng”.
3. Qua kinh nghiệm hằng ngày, chúng ta phải công nhận rằng Thành kiến là một căn bệnh phổ quát
chung cho mọi người. Thành kiến là một chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của
loài người, không ai thoát khỏi. Chúng ta hằng to tiếng lên án cái lối sống phô
trương bên ngoài. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại hằng căn cứ vào những cái bề ngoài mà đánh giá thiên hạ. Cùng
một câu văn, một lời nói, một việc làm, mà do người này thì có giá trị, do người
kia thì vô duyên; do người này thì hay đáo để, do người kia thì dở ẹc ra. Người
có danh tiếng thì lời nói việc làm nào cũng được coi như vàng ngọc. Người vô
danh tiểu tốt thì lời có đẹp như trăng sao, việc có hay như thần thánh, cũng bị
thành kiến dìm xuống đến tận bùn đen. Vì thế, Chúa Giêsu đã nói :”Không tiên tri nào lại được trọng đãi nơi
quê hương mình” (Ga 4,44).
4. Dân làng Nagiarét không thể chấp nhận một người mà họ đã
quen biết : thân thế tầm thường, gia đình nghèo nàn, họ hàng chẳng có danh giá
gì. Biết rõ như thế thì làm sao người đó
có thể là Vị Cứu Tinh, là Đấng giải thoát cho dân tộc mình được ? Quả thực,
họ đã bị thành kiến về giầu nghèo, về giai cấp trong xã hội làm mù quáng, không
thể nhận ra bản tính Thiên Chúa, nhận ra sứ mạng cứu chuộc nơi con người Đức
Giêsu. Từ thành kiến sai lầm đó họ đâm ra hoài nghi và yêu cầu Ngài làm phép lạ
như đã làm những nơi khác.
Trước sự cứng lòng và khinh thường của dân làng Nazareth,
Chúa Giêsu chẳng biết làm gì hơn ngoài việc đưa ra nhận xét chua cay :”Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở
chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà
thôi” (Mc 6,4). Dân làng Nazareth không tin Chúa thì cũng vì họ đóng khung
Thiên Chúa và tôn giáo vào trong những định kiến hẹp hòi có sẵn của họ. Đấng Cứu
Thế phải hiện nguyên hình như định kiến của họ, nghĩa là Đấng Cứu Thế phải có đầy
quyền lực theo nghĩa thế gian, họ không thể tin nhận được một Đấng Cứu Thế như một con người đơn sơ khiêm hạ như họ thấy
được.
5. Trên đường truyền giáo, Chúa Giêsu vẫn đem các môn đệ đi
theo để huấn luyện các ông. Trong việc huấn luyện cũng cần thấy sự thất bại, chứ
không phải chỉ nhìn thấy thành công. Sau này trên đường truyền giáo, sự thất bại
không làm cho các ông nản lòng.
Các nhà rao giảng Tin Mừng hãy bắt chước Chúa Giêsu mà đón
nhận thái độ “Bụt nhà không thiêng” của
những người được rao giảng. Họ có thể nghi kỵ, không ưa, hoặc chống đối chúng
ta đi nữa, thì hãy vững tâm vì “chân lý sẽ thắng”. Ban đầu có thể gặp thất bại
nhưng với thời gian người ta sẽ nhìn ra chân lý. Chúa Giêsu đã thất bại khi còn
sống nhưng đã thành công vẻ vang sau khi sống lại. Người tông đồ cũng phải đi
theo con đường ấy : phải kiên nhẫn chịu đựng, nhưng phải chịu đựng trong vui
tươi với tình thương mến.
6. Truyện : Cậu bé R. Tagore.
R. Tagore là một thi sĩ nổi tiếng của Ấn Độ và cả Đông
phương nữa. Ông có khiếu làm thơ ngay lúc còn thơ ấu.
Một hôm, cậu bé Tagore làm một bài thơ và đưa lên cho cha
xe. Ông thân sinh lắc đầu chê :
- Thơ mày là thơ thẩn !
Tagore mới nghĩ ra một mưu : cậu đem bài thơ của mình mới
làm, chép lại thật kỹ và chua xuất xứ là trích sao trong một cuốn thơ cổ. Cậu
ta lại không quên đề tên cuốn thơ cổ ấy cẩn thận.
Lần
này, ông thân sinh đọc xong, mắt sáng rực lên, vỗ đùi khen :”Tuyệt, tuyệt”. Rồi
đem khoe tíu tít với đứa con trai lớn của
ông, hiện đang làm chủ nhiệm một tờ báo văn học. Ông nói :
- Ba đã
đọc rất nhiều thơ cổ, nhưng chưa thấy bài nào hay như bài này.
Ông con
trai chủ nhiệm đọc xong cũng hết mình đồng ý, xoa tay khen là hay đáo để, và muốn
trích đăng lên mặt tờ báo văn học của ông.
Bấy giờ
ông anh cũng như ông thân sinh đòi
Tagore phải đem cuốn thơ cổ kia ra để đối chiếu chứng minh và cũng để dễ bề
chua xuất xứ trong khi đăng.
Đến đây
câu chuyện mới vỡ lở ra. Có ai ngờ trên đây là một cuộc dàn cảnh bịa đặt của thằng
bé Tagore ! Ông thân sinh giận sôi máu lên, nhưng rồi cũng phải nhìn con với cặp
mắt thán phục và hối hận cho thái độ mâu thuẫn của mình xưa nay.
Lm
Giuse Đinh Lập Liễm
Đà Lạt