Ăn Chay Hay Ăn Chơi?
(catechesis.net) February 16,
2021
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Chúa Nhật thứ Tư Mùa Chay được đặt tên là Chúa Nhật
“Laetare” (Vui lên đi), dường như mang tính cách xả hơi sau khi đã trải qua một
nửa chặng đường đền tội. Tuy nhiên, so với các tôn giáo khác, xem ra việc ăn
chay trong Kitô giáo có vẻ “ăn chơi”, chứ đâu có gì khắc khổ! Phải chăng đó là
do kỷ luật chay tịnh của Kitô giáo lỏng lẻo, hay bởi vì các tín hữu không thực
hành việc ăn chay cách nghiêm túc?
Tôi không dám so sánh kỷ luật chay tịnh của Kitô giáo với
các tôn giáo khác, bởi vì không biết có nên dừng lại ở khía cạnh lý thuyết hay
cần phải kiểm chứng cả phương diện thực hành nữa. Thực ra, khi đọc Phúc Âm,
chúng ta đã thấy ngay từ thời của Chúa Giêsu, đã có người nêu vấn nạn rồi, bởi
vì xem ra các môn đệ của Ngài ăn chơi, đang khi các môn đệ của ông Gioan thì ăn
chay. Chúng ta hãy đọc lại đoạn sách Tin Mừng thánh Marco, chương 2 câu 18-20:
“Bấy giờ các môn đệ ông Gioan và các người Pharisêu đang
ăn chay; có người đến hỏi đức Giêsu: tại sao các môn đệ ông Gioan và các môn đệ
người Pharisêu ăn chay, mà các môn đệ ông lại không ăn chay?”. Đức Giêsu trả lời như sau: “Chẳng lẽ
khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng
rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được, nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem
đi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó”.
Qua câu nói vừa rồi, ta thấy Đức Giêsu đi xa hơn các ngôn
sứ một bước. Thực vậy, trong Cựu ước, các ngôn sứ (tựa như
ông Isaia, ở chương 58) đã đặt việc ăn chay trong bối cảnh của
tất cả đời sống luân lý, nghĩa là không chỉ kiêng ăn uống mà còn phải kiêng
phạm tội, kiêng xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân. Chúng ta đã nghe đoạn văn
này trong Thánh lễ ngày thứ 6 và thứ 7 đầu Mùa Chay. Chúa Giêsu thì mở thêm một
chiều kích khác, chiều kích huyền bí của việc ăn chay:
việc ăn chay mang một ý nghĩa tang chế bởi vì mất đi một người yêu. Chính vì
thế mà trong Mùa Chay, Giáo luật buộc ăn chay vào hai ngày thứ Tư Lễ Tro và thứ
Sáu Tuần Thánh. Việc ăn chay vào thứ Tư Lễ Tro mang tính cách sám hối đền tội;
còn việc ăn chay thứ Sáu Tuần Thánh thì mang màu sắc tang chế.
Giáo luật chỉ buộc ăn chay mỗi năm hai ngày thì đâu thấm
thía gì khi so sánh với nhiều tôn giáo ở Việt Nam buộc ăn chay mỗi tháng 2 lần,
vào mồng 1 và ngày rằm?
Thiết tưởng nên phân biệt: một bên là luật buộc, một bên
là khuyến khích. Tôi không dám quyết chắc rằng ở Việt Nam có tôn giáo nào buộc
phải ăn chay hay không, hoặc là chỉ khuyến khích mà thôi. Trong lịch sử Kitô
giáo, thì ta thấy có sự phân biệt này, tuy trải qua thời gian, đã có sự tiến
triển trong cả hai khía cạnh.
Vào thời Chúa Giêsu tại thế, thì các môn đệ không ăn chay.
Từ hồi nào thì các Kitô hữu bắt đầu ăn chay?
Như chúng ta đã biết, những tài liệu về các thế kỷ đầu
tiên của Kitô giáo không được phong phú cho lắm. Dù sao, chúng ta đừng nên quên
rằng, các tín hữu đã giữ ấn tượng sâu đậm về việc Chúa Giêsu ăn chay 40 ngày
vào lúc khai mạc sứ vụ, một điều mà Cựu ước cũng đã ghi nhận nơi hai vị đại
ngôn sứ Moses và Eliah. Sách Tông Đồ Công Vụ cũng thuật lại rằng, thánh Phaolô
đã ăn chay 3 ngày sau khi trở lại (chương 9, câu 9), và khi lãnh sứ mạng
làm tông đồ dân ngoại (chương 13, câu 2-3). Những lần ăn chay
này xem ra mang tính cách huyền nhiệm, nghĩa là chuẩn bị để gặp gỡ Chúa, chứ
không mang tính cách đền tội hoặc tang tóc.
Từ thế kỷ thứ II và III trở đi, có nhiều tài liệu cho biết
các tín hữu giữ chay vào hai ngày thứ Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh, như là dấu
hiệu tang tóc. Hơn thế nữa, thánh Irénee, trong thư gửi tới Giáo Hoàng Victor
cho biết rằng, các tín hữu ở bên Đông phương giữ chay suốt Tuần Thánh. Sang thế
kỷ IV, chúng ta thấy nhiều Giáo phụ bên Tây và bên Đông, nói đến tục lệ giữ
chay suốt 40 ngày.
Và tục lề ấy kéo dài cho đến ngày nay, phải không?
Không hoàn toàn đúng như vậy. Một đàng, ngày nay, lịch
Phụng vụ bắt đầu Mùa Chay từ thứ Tư Lễ Tro, nghĩa là 46 ngày chứ không phải 40
ngày. Lý do là tại vì một tục lệ khá cổ đã ngưng giữ chay vào các ngày Chúa
Nhật; do đó, phải tính trội thêm 6 ngày cho đủ số 40. Tuy nhiên, sự khác biệt
quan trọng hơn nữa là ở chỗ nội dung việc giữ chay. Chắc hẳn chúng ta đều đã
biết những quy định của Bộ Giáo Luật hiện hành về việc giữ chay.
Trong các ngày giữ chay, có phải chỉ được ăn no một bữa
thôi đúng không?
Tạm chấp nhận như vậy đi. Cần nói thêm rằng, Giáo Luật
hiện nay chỉ ấn định phải giữ chay 2 ngày, đó là thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần
Thánh. Thời xưa, các tín hữu phải giữ chay 40 ngày, chứ không phải chỉ có 2
ngày mà thôi. Và còn một sự khác biệt quan trọng nữa, đó là ngày chay thì không
được ăn uống gì hết!
Như vậy là tuyệt thực 40 ngày hay sao?
Tôi xin lặp lại, vào thời xưa, trong suốt 40 ngày, các tín
hữu không được ăn uống gì hết. Nhưng đó không phải là tuyệt thực. Trong suốt
ngày, họ không được ăn uống, nhưng khi mặt trời lặn (nghĩa là
hết ngày, và đêm về) thì họ được phép ăn một bữa.
Cũng như các tín đồ Hồi giáo trong mùa Radmadan, ban ngày
thì ăn chay nhưng ban đêm thì đánh chén, phải không?
Tôi không biết luật của Hồi giáo đã quy định thế nào về
việc giữ chay, nhưng các Kitô hữu cổ thời kèm theo việc giữ chay với việc kiêng
thịt, kiêng rượu, kiêng đồ béo. Vì thế khó mà tưởng tượng được rằng họ được
phép đánh chén sau khi mặt trời lặn!
Như vậy thì các tín hữu thời xưa ăn chay nghiêm túc, còn
ngày nay thì chúng ta chỉ ăn chơi. Từ hồi nào có sự chuyển hướng như vậy?
Theo các sử gia, sự chuyển hướng xảy ra vào thời Trung cổ,
vào lúc mà lòng nhiệt thành bắt đầu suy giảm, đồng thời óc vụ luật bắt đầu len
lỏi vào đời sống đạo. Vào các thế kỷ đầu tiên, khi các tín hữu giữ chay vào thứ
Sáu Tuần Thánh, thì việc chay tịnh mang tính cách huyền nhiệm và Phụng vụ, theo
nghĩa là các tín hữu dành hôm đó vào việc cầu nguyện và cử hành Phụng vụ. Đến
khi Mùa Chay kéo dài ra 40 ngày, thì dĩ nhiên là không thể nào ngồi trong nhà
thờ suốt trong thời gian đó. Còn bao nhiêu công việc khác phải làm nữa chứ, và
nếu bụng đói thì làm sao cuốc đất được? Từ đó, người ta tìm cách nào giải thích
luật theo nghĩa co dãn.
Như đã nói trên đây, thời xưa, các tín hữu không được ăn
uống gì trong suốt ngày giữ chay. Việc chấm dứt ngày chay không được đánh dấu
bằng việc mặt trời lặn, nhưng là với Kinh Chiều. Để tôn trọng tục lệ cổ, người
ta đọc Kinh Chiều liền sau giờ Chín (nghĩa là 3 giờ trưa), và từ thế kỷ XIV
thì đọc kinh trùng với bữa ăn trưa! Ngoài ra, dựa theo chứng tích của thánh
Tôma Aquinô, người ta biết rằng cho đến thế kỷ XIII, việc giữ chay bao trùm
luôn cả việc kiêng uống (chứ không phải chỉ kiêng ăn); thánh
Tôma thì nới rộng hơn một chút, khi cho rằng việc uống nước không phá
chay (Summa Theology II-II, q.147, a.6).
Như vậy, thời xưa, khi giữ chay thì chỉ được ăn một bữa,
và cùng lắm chỉ được phép uống tí nước cho đỡ khát. Từ hồi nào được ăn thêm bữa
phụ?
Theo các sử gia, tục ăn thêm bữa phụ bắt nguồn từ các Đan
Viện. Nên biết là luật Giáo Hội thời xưa chỉ buộc giữ chay trong Mùa Chay (nghĩa là
40 ngày trước Lễ Phục Sinh), còn trong các Dòng Tu, thì ngoài luật
phải kiêng thịt suốt đời, họ còn phải giữ chay từ lễ Suy Tôn
Thánh Giá (14 tháng 9) cho đến Lễ Phục Sinh năm sau (nghĩa là
hơn kém 7 tháng). Xét vì các đan sĩ phải làm việc đồng áng chứ
không chỉ ngồi trong nhà thờ đọc kinh, cho nên họ được phép uống một ly rượu
vào ban tối, sau khi nghe đọc sách Collationes của Cassiano. Dần dần,
bên cạnh ly rượu còn thêm tí bánh. Từ đó, bữa lót lòng được gọi là “Collationes” (Ngày
nay trong tiếng Ý, bữa điểm tâm được gọi là colazione). Từ thế
kỷ XIV, các giáo dân cũng được phép dùng bữa lót lòng vào những ngày giữ chay.
Thế rồi từ chỗ điểm tâm lót lòng, kỷ luật giữ chay được nới rộng dần dần co đến
kỷ luật hiện hành ngày nay.
Tóm lại, khi ôn lại lịch sử, ta có thể kết luận rằng kỷ
luật khổ chế đã sa sút: từ chỗ ăn chay nghiêm ngặt vào các thế kỷ đầu, sang đến
chỗ lỏng lẻo đến nỗi chỉ còn là ăn chơi vào thời cận đại, có đúng như vậy
không?
Cần phải phân biệt hai khía cạnh:
– Một bên là kỷ luật. Xét về kỷ luật, thì khi so sánh với
các thế kỷ đầu tiên, quả thật việc ăn chay ngày nay chỉ còn là chuyện ăn chơi.
– Một bên là tinh thần. Khi xét về mặt tinh thần, thì việc
phê bình đối chiếu thật không đơn giản.
Việc giữ chay chỉ là một phương tiện khổ chế đền tội cũng
như là một phương tiện bày tỏ ý chí cải hoán. Từ thời các Giáo phụ, Giáo Hội
không hề tách rời việc ăn chay với các phương tiện khác nữa để đạt đến cùng một
mục tiêu, đó là: sự cầu nguyện, thực hành nhân đức, đặc biệt là đức bác ái. Vì
thế để đánh giá trình độ đạo đức của một cá nhân hay một thời đại, chúng ta
không thể chỉ đo lường qua mức độ nghiêm khắc của kỷ luật ăn chay, nhưng còn
phải đối chiếu với việc thực hành các công tác từ thiện bác ái, các hành vi tự
kiềm chế tính kiêu ngạo ích kỷ, cũng như thái độ từ tốn trong cách cư xử với
Thiên Chúa và tha nhân nữa. Dù sao, trong vấn đề này chúng ta cần dung hòa cả
hai khía cạnh: kỷ luật và tinh thần. Kỷ luật nghiêm khắc mà không có tinh thần
thì dễ rơi vào thái độ bôi bác giả hình. Tinh thần mà không có kỷ luật thì có
nguy cơ tan biến ra khói!