Chúa
Nhật XIV Thường Niên A
Con
Xin Ngợi Khen Cha
Mt 11:25-30: 25 Thuở ấy, Ðức Yêsu cất tiếng
nói: "Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu các
điều ấy với hạng khôn ngoan thông thái, mà đã mạc khải ra cho những kẻ bé mọn. 26
Vâng lạy Cha, vì đó là quyết ý của Cha!
27 "Mọi sự đều đã được Cha Ta trao phó cho Ta, và không ai biết
được Con trừ phi có Cha; và cũng không ai biết được Cha trừ phi có Con và kẻ
được Con khấn mạc khải ra cho".
28 "Hãy đến với Ta, hết thảy những kẻ lao đao và vác nặng".
Và Ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức: 29 Hãy mang lấy ách của Ta vào mình,
hãy thụ giáo với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và các ngươi
sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn. 30 Vì chưng ách Ta thì êm ái,
và gánh Ta lại nhẹ nhàng".
Đoạn 11:25-50 là phần cuối của chương
11. Chương nầy bàn đến thái độ không tin của người Do thái vào con người và sứ
mạng của Chúa Giêsu. Đoạn 11:2-19 nói về Gioan Tẩy Giả và phản ứng chối bỏ của
dân chúng đối với Chúa Giêsu và Gioan. Tiếp đến đoạn 11:20-24 là lời phán xét đối
với các dân thành không chịu hoán cải trước lời rao giảng và việc làm của Chúa
Giêsu. Sau cùng đoạn 11:25-30 nói đến một số người “bé nhỏ” tin vào Chúa Giêsu.
Đoạn 11:25-30 là lời của Chúa Giêsu ngỏ
với Chúa Cha, gồm ba phần liên kết với nhau rất chặt chẽ: - Chúa Giêsu tạ ơn và
ca ngợi Thiên Chúa (cc. 25-26); - Chúa Giêsu nói đến tương quan của Người với
Thiên Chúa (c. 27); - Chúa Giêsu mời gọi mọi người đến cùng Người (cc. 28-30).
Chủ đề chính của đoạn là tương quan của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Các hạn từ chính
trong đoạn: “Cha” (11:25.26.27[3x]), “Con” (11:27 [3X]), “Tôi” (11:28.29[2x].30[2x]),
“các anh” (11:28.29[2x]). Trong ba câu đầu 11:25-27 nội dung liên quan đến Chúa
Cha và Chúa Giêsu với tư cách là Con, và ba câu sau 11:28-30 liên quan đến Chúa
Giêsu và người khó nhọc.
Chúa
Giêsu tạ ơn và ca ngợi Chúa Cha (11:25-26)
Câu 25 mở đầu bằng lời của Chúa Giêsu
ca ngợi Thiên Chúa, và tiếp theo mệnh đề hôti,
“vì”, giải thích lý do của việc ca ngợi nầy. Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha.
“Pater”, hipri ˒abbā˒ bao hàm cả sự thân mật lẫn trổi vượt. Cụm
từ “Chúa cả trời đất” chỉ quyền tối cao của Thiên Chúa bởi Người tạo dựng nên
trời đất (x. Cvtđ 17:24). Động từ exomologeō
(x. 3:6), theo từ nguyên có nghĩa là “tuyên xưng”. Khi ca ngợi Chúa Cha, Chúa
Giêsu tuyên xưng sự cao trọng của Người.
Lý do của việc ca ngợi gồm hai điều tương
phản nhau: giấu điều ấy đối với hạng thông thái và khôn ngoan, nhưng lại mặc khải
cho những người bé mọn (c. 25b). Các cặp tương phản ở đây: giấu - tỏ lộ, thông
thái và khôn ngoan - bé mọn. Matthêô dùng động từ “giấu” trong các dụ ngôn nói đến
Nước Trời. Nước Trời như kho tàng chôn giấu trong ruộng (13:44), như nén bạc người
tôi tớ chôn dưới đất (25:18.25). Kho tàng ấy, nay được tìm thấy, và nén bạc ấy không
được đem giấu đi. “Điều ấy”, tauta, chính
là Chúa Giêsu. Người là mặc khải của Thiên Chúa và Nước Trời. Tính từ tạo thiên
lập địa chưa ai biết đến Người, hôm nay Thiên Chúa tỏ Người ra cho con người (x.
13:44).
Nēpios, theo nghĩa đen là “trẻ nhỏ”, nghĩa bóng
là “người bé mọn”, “thấp hèn”, “môn đệ”; đối lại là những người thông thái, sophos, và khôn ngoan, syniēmi. Theo văn mạch, đó là những người
từ chối tin vào Chúa Giêsu (x. 11:19). Nēpios
được dùng thêm một lần nữa trong trình thuật Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Các
nēpios hoan hô Chúa Giêsu trong khi đó,
các thượng tế và kinh sư bất bình và phản
đối (221:16). Như thế, nēpios là người
nhận ra Chúa Giêsu là Đấng phải đến và tin vào Người, còn các “người thông thái
và khôn ngoan” thì không. Vậy Chúa Giêsu ca ngợi Thiên Chúa
vì người bé mọn được Chúa trời đất cho biết điều mà từ khi tạo dựng đến nay chưa
ai biết. Đó là Chúa Giêsu, Con duy nhất của Người. Một mặc khải cao quý. Một
vinh dự do Thiên Chúa ban. Tất cả hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn của Người.
Tương quan giữa Chúa Giêsu với
Thiên Chúa (11:27)
Câu nầy chuyển sự chú tâm vào
Chúa Giêsu: tương quan hiểu biết và quyền hành của Người đối với Chúa Cha. “Người
Con”, hyios, được dùng theo dạng tuyệt
đối và không kèm theo một bổ nghĩa nào, ám chỉ “Con Thiên Chúa” (3:17; 14:33;
16:16; 17:5; 27:54). Mọi sự, panta, chỉ
mọi quyền hành trên trời và dưới đất (x. 28:18). Thiên Chúa Cha trao cho Chúa
Giêsu tất cả những gì thuộc về Người như là Chúa trời đất. “Mọi điều” là sự hiểu
biết duy nhất giữa Người với Chúa Cha. Chỉ mình Người biết Cha, và cũng chỉ mình
Chúa Cha biết Người. Và việc biết nầy làm cho Người có thể nói về Thiên Chúa và
Nước Trời cho con người. Epiginōskō,
“nhận biết”, là biết người hay sự vật nhờ thấy hoặc nghe (x. 7:16.20; 14:35;
17:2). Ở câu 25, Chúa Giêsu nói đến việc Chúa Cha mặc khải, apokalyptō. Ở câu 27, Người Con mặc khải
cho ai Người muốn. Đối tượng của việc Chúa Cha mặc khải là Chúa Giêsu. Còn đối
tượng của việc Chúa Giêsu mặc khải (c. 27) là những điều liên quan đến Thiên Chúa
và Nước Trời.
Sau khi xác định tương quan đặc biệt và
duy nhất đối với Thiên Chúa, Chúa Giêsu mời gọi mọi người đến cùng Người
(11:28-30), đặc biệt những người khó nhọc và gánh nặng. Họ như đàn chiên không
có người chăn dắt (9:36), và còn bị chất trên vai nhiều gánh nặng không mang nổi
(23:4). Chúa Giêsu hứa cho họ sự nghỉ ngơi. Điều kinh ngạc là Chúa Giêsu mời gọi
họ mang lấy “ách của Người”.
Cái ách đặt lên lưng con bò để có thể điều
khiển nó theo ý muốn của chủ nhân. Cái ách chỉ sự ràng buộc. Lề luật của Môsê
phải được thay thế bởi giới răn mới của Chúa Giêsu. Lời hứa nghỉ ngơi không hàm
ý là không có một “ràng buộc nào”. Giới răn của Chúa là sự liên kết mới, là một
đòi hỏi đích thật trên tự do. Chỉ khi liên kết và mang lấy sự ràng buộc với Chúa
Giêsu, con người mới thật sự tự do, và tìm thấy được sự nghỉ ngơi cho tâm hồn.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến