nỘp
thuẾ cho XÊDa
(Mátthêu 22,15-21 – CN XXIX TN - A)
1.- Ngữ cảnh
Tiếp sau phân đoạn Mt
21,23–22,14 về các dụ ngôn là bốn giai thoại tường thuật các thức Đức Giêsu
đánh bại các đối thủ trong các cuộc tranh luận tại Đền Thờ. Có thể gọi đây là
các “truyện về tranh luận”. Nét tiêu biểu của các truyện này
là người tường thuật không quan tâm đến lập trường của các đối thủ của Đức
Giêsu. Ông thường cho thấy: hoặc các đối thủ giăng một cái bẫy bằng câu
hỏi hiểm độc (cc. 15-22), hoặc câu hỏi của họ tạo ra cơ hội cho một câu trả lời
(cc. 34-40). Nếu có nói đến lập trường của họ, thì chỉ nói
rất ngắn gọn (cc. 23.42), vì cần phải nói ra cho cuộc tranh luận. Các đối thủ của Đức Giêsu được mô tả giống như các diễn viên ranh
ma nhưng thừa thãi.
Hình thái của bốn truyện
cũng có đặc tính của cuộc tranh luận tại lớp học, trong đó các học trò đặt câu
hỏi cho thầy (22,16.24.36). Theo một lược đồ của
truyền thống kinh sư Do Thái, các tranh luận nhà trường được bố trí thành bốn
bậc với độ mạnh tăng dần và được đặt tên như sau:
1- [K]hokmâh
(“sự khôn ngoan”): đây là một tranh luận về quy tắc phải theo khi liên hệ đến những bản văn pháp luật;
2- Haggadâh
(“truyện ký”): đây là một lối giải thích các bản văn Kinh Thánh bề ngoài mâu
thuẫn với nhau;
3- Bôrut (“sự
tầm thường”): đây là một tranh luận nhắm biến niềm tin thành một trò hề;
4- Derek ‘erets
(“đường đất”): đây là một tranh luận về những nguyên tắc cơ bản của đời sống
luân lý.
Chúng ta có thể cho rằng tác giả Mt đã trình bày các
đoạn văn trong chương 22 từ c. 15 đến c. 46 theo lược đồ này, nhưng ngài đảo
thứ tự truyền thống, bằng cách đặt haggadâh vào cuối cuộc đối chất, hầu
nêu bật tính tiệm tiến của cuộc đối chất cho đến câu hỏi cuối cùng của Đức
Giêsu (x. c. 42):
1-
[K]hokmâh:22,15-22,
2-
Bôrut: 22,23-33;
3-
Derek ’erets: 22,34-40,
4-
Haggadâh: 22,41-46.
Ba tranh luận đầu được gợi lên bởi ba nhóm đại diện Do Thái giáo chính
thức. Họ tìm cách gài bẫy Đức Giêsu bằng chính những lời nói của Người (cc. 15
và 35) về những vấn đề ngày càng thêm quan trọng: nộp thuế cho Xêda, là vấn
đề đặt đối lập các nhóm Hêrôđê, Pharisêu và Nhiệt Thành (Quá Khích) với nhau; sự
sống lại của kẻ chết, là vấn đề được phái Xađốc đặt ra; điều răn lớn
nhất, là mối bận tâm của người Do Thái tuân thủ luật Môsê nghiêm nhặt, tức
phái Pharisêu. Các vấn đề ấy được đặt ra cho một vị Rabbi: “Thưa Thầy” (didaskale;
x. cc. 15.24.36); đây là danh hiệu cho thấy là họ hiểu Đức Giêsu đứng vào vị
trí nào. Nhưng cứ mỗi lần Đức Giêsu lại đưa họ đến một câu hỏi triệt để
hơn. Để rồi cuối cùng, Người chủ động đặt rõ ràng cho họ câu hỏi phát sinh do
dự hiện diện của Người giữa họ trong Đền Thờ, và như thế Người buộc họ phải lấy
lập trường dứt khoát.
2.- Bố cục
Bản
văn có thể chia thành ba phần:
1) Toan tính của các đối thủ của Đức
Giêsu (22,15);
2) Cuộc gặp gỡ với vấn đề nộp thuế cho
Xêda (22,16-17);
3) Câu trả lời của Đức Giêsu
(22,18-21):
a) lật mặt nạ bằng nhận định mở đầu (c. 18),
b) lật mặt nạ bằng cách dùng đồng tiền nộp thuế (cc. 19-21a),
c) giáo huấn quan trọng nhất của Đức Kitô: tìm kiếm Thiên Chúa (c. 21b).
Bài đọc phụng vụ bỏ câu kết của cuộc tranh luận (c. 22).
3.- Vài điểm chú
giải
- người Pharisêu … người thuộc phe Hêrôđê
(1-2): Những người Pharisêu đại diện cho thái độ không khoan nhượng về tôn
giáo. Họ nhất định không bỏ mất tự do của Dân Thiên Chúa trước chính quyền
Rôma. Còn người thuộc phe Hêrôđê thì ủng hộ Rôma, bởi vì Đế quốc nâng đỡ các
tiểu vương xuất thân từ gia đình Hêrôđê Cả.
- người chân thật … chẳng vị nể ai
(16): Đây là hai đòi hỏi mà các kinh sư luôn phải nhớ mà đáp ứng: trung thành
với Lề Luật và không cả nể, thiên vị.
- được phép … hay không (17): “Đưọc phép” (exestin)
[và “không được phép”] là công thức tiêu
biểu của TM Mt (12,2.4.10.12; 14,4; 19,3; 20,15; 27,6). Câu hỏi “được
phép không?” thường được người tín hữu Do Thái đặt ra cho mình và cho các kinh
sư. Tầm mức của câu hỏi có tính quy thần: dưới mắt Thiên Chúa, tức dưới ánh
sáng của Lề Luật, có được phép nộp thuế không? Như thế, câu hỏi không được đặt
ra trên bình diện Luật dân sự hoặc thời cơ chính trị.
- nộp thuế (17): Ngoài nhiều khoản thu được bổ
cho tất cả các công dân trong Đế quốc (thuế cầu đường, thuế quan…), các tỉnh
phải đóng một thứ cống (Lt. tributum) cho hoàng đế, để bày tỏ sự thuần
phục. Người Do Thái rất ghét thứ cống thuế này, còn Nhóm Quá Khích thì buộc
phải coi việc từ chối nộp thuế này như một bổn phận tôn giáo.
- đồng tiền nộp thuế (19): Người Do Thái chỉ có
quyền đúc tiền đồng, chứ không được đúc tiền bạc. Như vậy các đồng tiền của họ
có giá trị nhỏ nên không được phép dùng để đóng thuế. Họ phải dùng đồng quan (dênarion).
Chẳng hạn, đồng quan của hoàng đế Tibêriô có một bên là hình cái đầu hoàng đế,
bên kia là hình bà Livia, mẹ của hoàng đế, được coi như nữ thần hòa bình.
4.- Ý nghĩa của bản
văn
* Toan tính của các đối thủ của Đức
Giêsu (15)
Câu 15 mở đầu cho toàn phân đoạn (cc.
15-46). Các đối thủ của Đức Giêsu lần lượt xuất hiện: tại Đền Thờ, các thượng
tế và kinh sư đã can thiệp (21,15), kế đó là các thượng tế và kỳ mục trong dân
(21,23), rồi đến các thượng tế và người Pharisêu (21,45), bây giờ đến lượt những
người Pharisêu và những người thuộc phe Hêrôđê (22,15). Sau này những người
thuộc nhóm Xađốc cũng đến (22,23), và cuối cùng lại là những người Pharisêu
(22,35.41). Họ vẫn chống nhau, nhưng bây giờ họ liên minh với nhau để chống một
kẻ thù “chung”.
Hôm nay nhóm Pharisêu nhắm rút được một
tuyên bố (logos) của Đức Giêsu, để lời ấy trở thành một cái bẫy hại
Người.
* Cuộc gặp gỡ với vấn đề nộp thuế cho Xêda (16-17)
Ở đây những người Pharisêu sai các môn đệ của họ (thật ra người Pharisêu
không có môn đệ, mà là các kinh sư) cùng đi với những người thuộc phe Hêrôđê mà
gài bẫy Đức Giêsu. Ở Mc 12,14-15, câu hỏi của họ vừa có tính lý thuyết
(“có được phép nộp thuế?”) vừa thực tiễn (“chúng tôi có phải nộp thuế?”); ngược
lại trong Mt, câu hỏi chỉ có tính lý thuyết (như ở Lc 20,20-26).
Thật ra câu hỏi của họ hết sức nham hiểm. Lời đầu tiên họ nói, rất dài, nhắm ru
ngủ các nghi ngờ, là một lời khen hết sức giả hình (c. 16: captatio
benevolentiae): họ chào Người là “Thầy” (Rabbi); họ đề cao sự chân thành,
khả năng, tính chí công vô tư của Người. Thật ra, Đức Giêsu đúng là như thế,
nhưng nơi môi miệng của những sứ giả do người Pharisêu thù nghịch gửi đi, các
lời của họ rỗng tuếch và không lương thiện. Từ đó, họ xin Người ban giáo huấn
về một vấn đề phức tạp; họ “nhả chất độc ra” (c. 17): một câu hỏi
dứt khoát và đột ngột: “có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?”. Nếu trả lời
“có”, Đức Giêsu sẽ khiến dân chúng nổi giận, vì Người tỏ ra là người nghiêng
theo Đế quốc; và người Pharisêu chẳng bỏ lỡ cơ hội mà đánh đổ tất cả uy tín của
Người trước mặt dân chúng. Còn nếu trả lời “không”, Người sẽ bị coi là chống
chính quyền Rôma; và phe Hêrôđê có lẽ sẽ là những người đầu tiên tố cáo Người
là người muốn phá rối trị an. Hơn nữa, câu hỏi còn có tầm mức thần học, bởi vì
các nhóm Do Thái cực đoan coi việc sử dụng đồng bạc ngoại quốc như một kiểu
thờ ngẫu tượng, mà điều răn thứ hai lên án: không được đưa các hình ảnh hoàng
đế hoặc các biểu hiệu tượng trưng quyền bính của ông vào Đền Thờ để khỏi làm
giảm thiểu vương quyền của Đức Chúa (Yhwh).
Khi các tổng trấn (chẳng hạn Philatô) đã tìm cách làm như thế để hạ nhục người
Do Thái, các vị này đã gặp phải phản ứng chống đối gay gắt nhất. Những người
thuộc Nhóm Quá Khích (Nhiệt Thành) dứt khoát không nhận quyền Hoàng đế nên cũng
không đóng thuế. Họ không đặt vấn đề về lý thuyết hay thực hành. Nhưng người
Pharisêu thì chọn một thái độ trung dung; họ đã chấp nhận đóng thuế để đổi lấy
tự do tôn giáo. Vậy câu hỏi đặt ra cho Đức Giêsu rất nham hiểm, để Người không
có ngõ thoát: “có được nộp thuế hay không?”. Nhưng Đức Giêsu thấy rõ cái bẫy.
* Câu trả lời của Đức Giêsu (18-21)
Trước tiên, Đức Giêsu lật mặt nạ của họ bằng nhận định mở đầu: “Tại sao các
người lại thử tôi, hỡi những kẻ đạo đức giả” (c. 18). Người cho thấy Người
không phải là kẻ khù khờ. Họ đã mở đầu câu chuyện rất mềm mỏng (c. 16b) không
phải vì họ tha thiết tìm kiếm chân lý của Thiên Chúa, nhưng chỉ vì muốn đưa
Người vào thế lưỡng nan, để hại Người. Họ đáng bị gọi là “những kẻ đạo đức giả”
theo hai nghĩa: trước tiên, bởi vì họ giả bộ rất quan tâm đến một vấn đề
thời sự; kế đó, bởi vì khi sử dụng đồng quan để giao dịch buôn bán, họ đã minh
nhiên nhìn nhận quyền của Hoàng đế từ lâu rồi.
Kế đó, dù câu hỏi được đặt ở bình diện
lý thuyết, Đức Giêsu đã chuyển sang bình diện thực hành để trả lời (“Cho tôi
xem đồng tiền nộp thuế”, c. 19). Nếu họ cũng như mọi người Do Thái có trong túi
các đồng quan Rôma, mặc dù có các hình ảnh và dòng chữ bất kính, ngẫu tượng,
điều đó có nghĩa là họ đã có một giải pháp cho vấn đề. Tại sao khi dùng
đồng quan ấy (của Đế quốc) mà giao dịch buôn bán thì họ không áy náy bao nhiêu,
mà bây giờ “trả về Xêda” (nộp thuế) thì họ lại áy náy đến thế? Nếu có vấn đề ở
đây, thì họ đã giải quyết từ lâu rồi: được phép nộp thuế. Trong lãnh vực tiền bạc,
họ đã nhìn nhận họ lệ thuộc Xêda.
Nhưng rồi Đức Giêsu đi quá câu hỏi được đặt ra:
chỉ có một điều quan trọng nhất, mà họ hoàn toàn có thể làm ngay khi
phải sống dưới ách đô hộ, đó là “trả về Thiên Chúa”, điều thuộc về Người (c.
21b). Đây là điều Đức Giêsu đã không ngừng nói đến kể từ khi ra đi hoạt động:
“Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả
những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33. Xem Bài giảng trên núi). Khi nói như thế, Đức Giêsu không có
ý thiết lập hai trật tự khác nhau là Quốc gia và Hội Thánh như hai điểm quy
chiếu khác nhau, cũng không biện minh cho việc quy phục Hoàng đế. Người chỉ muốn đặt các vấn đề vào đúng chỗ của chúng. Thật ra các vấn đề liên hệ đến Hoàng đế chẳng là gì so với các vấn
đề liên hệ đến Nước Thiên Chúa. Người ta đã hỏi Đức
Giêsu về thuế, chứ không hỏi gì về các đòi hỏi của Thiên Chúa cả. Người không tìm cách tránh né, vì không thể được, nhưng khi trả
lời, Người cũng chỉ đặt mỗi chuyện vào đúng chỗ của nó. Các đối thủ chẳng còn biết tiếp tục câu chuyện như thế nào nữa.
Các quyền của Hoàng đế đã không bị vi phạm, nhưng các
quyền của Thiên Chúa thì đã được khẳng định rất mạnh. Người ta hoàn toàn có thể
thỏa mãn các đòi hỏi của Thiên Chúa trong khi vẫn đóng thuế cho Hoàng đế.
+ Kết luận
Thật ra, Đức Giêsu
không muốn thiết lập hai trật tự khác nhau song song, trong đó Thiên Chúa và
Xêda đều là chúa tể; Người cũng không dạy về thái độ tùng phục Hoàng đế. Người chỉ muốn đặt các vấn đề vào đúng vị trí của chúng.
Người không phủ nhận rằng cũng có thể có những xung đột, và đôi khi phải chọn
lựa (x. Cv 4,18-20). Nhưng
Người muốn nói rằng xung đột ấy không có ở chỗ người Pharisêu muốn thấy có.
Bởi vì người nào thật sự tùng phục Thiên Chúa và sống trong niềm chờ mong Nước
Trời và sự công chính của Thiên Chúa, thì có thể nhìn nhận tính chính đáng cũng
như những giới hạn của những quyền của Xêda (x. 1 Pr 2,13-16).
5.- Gợi ý suy niệm
1. Chúng ta hoàn toàn
có thể lấy lại lời người Pharisêu khen ngợi Đức Giêsu, nhưng gột rửa sạch mọi
toan tính giả hình, để thưa với Đức Giêsu. Đức Giêsu đúng là Đấng chân thật:
Người không uốn cong các đòi hỏi của chân lý hoặc luật luân lý theo các nhận định về thời cơ hoặc nhằm thành công cho riêng
mình. Người chính là Sự Thật (x. Ga 14,6). Đức
Giêsu dạy đường lối của Thiên Chúa: đây không phải là Luật Môsê hay sự khôn
ngoan loài người của các triết gia và các nhà luân lý; Người là “ánh sáng cho
thế gian” dẫn đưa chúng ta (Ga 8,12), để chúng
ta khỏi đi trong bóng tối. Người chẳng vị nể ai: Người là Đấng cứu độ mọi người
(x. 1 Tm 2,3-6), nên không bận tâm về màu da,
chủng tộc, trình độ trí tuệ, hoàn cảnh xã hội của con người (x. Ga
3,28).
2.
Thiên Chúa vẫn dành chỗ cho Hoàng đế. Nếu hết lòng với Thiên Chúa, con người có thể
và phải chu toàn các quy định của Hoàng đế (chính
quyền) trên nhiều lãnh vực, nhưng trọn vẹn bản thân thì thuộc về Thiên Chúa và
không được từ chối Người bất cứ điều gì của mình. Thiên Chúa
đòi hỏi một điều hoàn toàn khác với việc từ chối nộp thuế cho Xêda,
Người đòi hỏi một điều to lớn hơn vô cùng. Người đòi hỏi chính
bản thân con người, cách tuyệt đối và trọn vẹn (“Yêu mến Thiên Chúa hết
lòng…”).
3. Quyền dân sự nằm
trong bình diện trần thế, là bình diện phải lệ thuộc các thực tại của bình diện
tôn giáo. Ở trong bình diện trần thế, Đức Giêsu nhìn nhận
rằng việc nộp thuế cho chính quyền Rôma chẳng có gì là vô luân hay phạm thánh
cả. Thánh Phaolô có viết: “Anh em nợ ai cái gì, thì hãy trả cho người ta
cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải
sợ, kính người phải kính” (Rm 13,7). Người Kitô
hữu không được viện cớ là mình phải chu toàn các bổn
phận tôn giáo để miễn chuẩn các bổn phận đối với quốc gia hoặc trong quốc gia.
Chúng ta là công dân Nước Trời (x. Pl 3,19-20),
nhưng sống tư cách ấy tại một quê hương trần thế.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm